DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 2  
  Số lượt truy cập: 26992  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO  
Cập nhật ngày : 23.05.2014 (Đã đọc : 7020 lần )

38- CHẲNG NÊN TIN VÀO TÀ GIÁO

Chúng tôi dựa vào kinh sách Nguyên thủy do Hòa thượng Minh Châu dịch ra Việt ngữ mà xem lại kinh sách phát triển và kinh sách Thiền tông thì những loại kinh này không phải là Phật thuyết mà do kiến giải của các Tổ viết ra, biết rõ được như vậy nên chúng tôi nói thẳng để giúp cho mọi người đừng lầm lạc. Đó là một loại kinh sách giả hiệu Phật giáo.

Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:“Những điều tôi đích thân nghe từ Phật nói như thế thì các ông chớ nên không tin, chớ nên hủy báng. Nếu họ nói như thế thì các ông phải y cứ vào các kinh Nguyên thủy để suy nghiệm điểm hư thật, hãy y cứ theo luật, theo pháp gốc Nguyên thủy mà nghiên cưú tường tận ngọn nguồn lời nói ấy, nếu nhận thấy không đúng với kinh, với luật, với pháp thì hãy nói với họ đức Phật không có dạy những điều gì mà ông đã lãnh thọ. Ông đã lãnh thọ sai lầm đấy! Tại vì sao? Vì tôi đã y cứ vào kinh, luật, pháp mà so nghiệm, thì nhận thấy lời ông trình bày không phù hợp với chánh pháp. Vậy nầy Hiền sĩ không nên thọ trì, không nên giảng dạy cho người khác và hãy từ bỏ”. (Trường A Hàm tập I trang 139).

Lời dạy trên đây không đủ minh chứng cho kinh sách phát triển và kinh sách Thiền tông là không phải của Phật giáo. Vậy quý vị hãy từ bỏ nó dù quý vị có tu tập ngàn đời cũng chẳng có lợi ích gì cả.

39- TỨ QUẢ SA MÔN

Lần đầu tiên đức Phật thuyết giảng và dạy cho năm anh em Kiều Trần Như Tứ Diệu Đế, bài pháp ấy đã làm cho giáo pháp của ngoại đạo rơi rụng như lá vàng mùa Thu, làm cho tất cả giáo pháp của ngoại đạo không còn ai tin tưởng nữa. Bởi Phật pháp là chân lý của loài người dạy đâu có đó.

Chân lý thứ nhất: “Đức Phật nói con người trên thế gian này không ai là không Khổ, vì thế Khổ là một chân lý không ai dám phủ nhận.”

Chân lý thứ hai: “Đức Phật nói con người trên thế gian này không ai là không Dục, vì thế Dục là một chân lý không ai dám phủ nhận.”

Chân lý thứ ba: “Đức Phật nói con người trên thế gian này không ai là không có Tâm Bất Động, Thanh Thản, vì thế Tâm Bất Động, Thanh Thàn là một chân lý mà không ai dám phủ nhận.”

Chân lý thứ tư: “Đức Phật nói con người trên thế gian này muốn thoát mọi khổ đau thì phải theo chương trình giáo dục đào tạo của tám lớp tu học thì mới chấm dứt khổ đau.”

Nếu theo chương trình tu học này thì có bốn cấp chứng đạo rõ ràng. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Nếu trong giáo pháp nào không có pháp Bát Chánh Đạothì không có quả Sa Môn thứ thất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Nầy Tu Bạt, vì trong giáo pháp có Bát Chánh Đạo nên có 4 quả Sa Môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Nầy Tu Bạt nay trong giáo pháp Ta có Bát Chánh Đạo, có Sa Môn quả thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Trái lại trong giáo pháp của ngoại đạo không có quả vị Sa Môn.” (Trường A Hàm tập I trang 197).

Đúng vậy chỉ có giáo pháp Bát Chánh Đạo của đạo Phật mới mới có bốn quả Sa Môn, ngoài giáo pháp của đức Phật không bao giờ có quả Sa Môn. Nhờ có Bát Chánh Đạo mà chúng ta so sánh với giáo pháp của của kinh sách phát triển và thiền tông Trung Hoa thì chúng ta biết ngay chính những giáo pháp này không phải của Phật giáo.

40- CHỚ NÊN PHÓNG DẬT

Phòng hộ sáu căn là một pháp môn rất cần thiết trên đường tu tập, cho nên đức Phật dạy: “Ta chính nhờ tâm không buông lung phóng dật mà thành chánh quả, vô lượng điều lành đều nhờ tâm không phóng dật mà có được. Tất cả vạn vật điều vô thường, đó là lời dạy cuối cùng của đức Như Lai”. (Trường A Hàm tập I trang 200).

Phòng hộ sáu căn là giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý. Vậy giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý bằng cách nào?

Pháp Như Lý Tác Ý là pháp phòng hộ sáu căn tuyệt vời, mỗi lần mắt đang nhìn thấy một cái gì thì nên tác ý bảo nó nên quay vào nhìn Tâm Bất Động, tai, mũi, miệng, thân, ý cũng như vậy đều tác ý kêu nó quay vào trong thân. Cứ bền chí tu tập hằng ngày tác ý như vậy thì sáu căn sẽ không phóng dật chạy theo sáu trần. Sáu căn sẽ không phóng dật chạy theo sáu trần là chúng ta đã chứng đạo như đức Phật đã dạy: “Ta ThànhChánh Giác Là Nhờ Tâm Không Phóng Dật.”

41- KHÔNG CÓ PHẬT QUÁ KHỨ

Trong quá khứ trước đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có một vị Phật nào cả, nhưng trong kinh sách dù kinh Nguyên thủy hay kinh sách Đại Thừa vẫn nói đến bảy vị Phật ở quá khứ. Sự thật này ra sao?

Nếu không có lời dạy của đức Phật thì chúng ta không bao giờ dám nói rằng không có bảy đức Phật trong quá khứ: “Này chư Hiền giả, đức Như Lai Chí Chân Đẵng Chánh Giác, đầy đủ 10 hiệu ta không thấy ai trong quá khứ, vị lai và hiện tại có đầy đủ 10 danh hiệu như Phật. Pháp Phật vi diệu, giảng giải rõ ràng được người trí hành theo. Ta không thấy ai trong quá khứ, vị lai và hiện tại có giáo pháp vi diệu như Phật. Phật do pháp ấy tự giác ngộ thông đạt vô ngại để tự vui thú. Ta không thấy ai trong quá khứ, vị lai và hiện tại đối với pháp nầy mà tự giác ngộ, thông đạt vô ngại để tự vui thú như Phật”. (Trường A Hàm tập I trang 240).

Đúng vậy, theo lời dạy này, kinh sách phát triển và Thiền tông chỉ là do những người sau thêm vào có bảy vị Phật quá khứ với mục đích làm giảm uy tín đức Phật thích Ca Mâu Ni Phật. Đó là ý đồ của ngoại đạo. Theo lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì trong quá khứ không có vị Phật nào cả. Cho nên bảy vị Phật chỉ là một huyền thoại của ngoại đạo mà thôi.

42- HÃY TỰ THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI

Con đường tu hành thành chánh quả thì không có một người nào tu hành thay cho mình được. Bởi con đường đó ai có tu thì có được, ai không tu thì không được. Đó là con đường tự nguyện tự giác. Không ai cứu khổ ai được. Biết rõ điều này nên Đức Phật đã dạy:

“Này các thầy tỳ-kheo, thế nào là tự mình thắp đuốc mà đi, hãy thắp lên chánh pháp, đừng thắp lên một pháp nào khác, và hãy nương tựa với chính mình, hãy nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa một pháp nào khác. Ấy là tỳ-kheo quán thân trên thân, siêng năng không biếng nhác, nhớ mãi đừng quên, để trừ tâm tham ưu, sân giận và si mê. Cho đến quán ngoại thân và quán nội thân và quán nội ngoại thân. Siêng năng không biếng nhác, nhớ mãi không quên để trừ tâm tham ưu ở thế gian. Quán sát về thể, về ý và về pháp cũng như thế.” (Trường A Hàm tập I trang 806)

Lời dạy trên đây là dạy cách thức tu tập trên Tứ Niệm Xứ. Trên Tứ Niệm Xứ có một pháp tu tập hay nhất, đó là pháp Dẫn Tâm Vào Đạo. Muốn quán thân trên thân hay là quán trên thân nội, ngoại thì nên tác ý Tâm Bất Động, Thanh Thản, An Lạc rồi im lặng ngồi hay đi hoặc nằm hay đứng đều nhìn vào tâm sẽ thấy sự Bất Động của nó hiện ra rất rõ. Ngày ngày cứ tu tập như vậy thì sẽ cảm nhận chứng đạo từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày và cuối cùng từng tháng, từng năm rồi chứng đạo mãi mãi.

Vì sự tu hành chứng đạo không có khó khăn, không có mệt nhọc nên Đức Phật căn dặn rất kỹ càng không nên tu tập pháp nào khác mà hãy tu tập chánh pháp của Phật. Phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, tức là tự mình hãy tác ý tâm Bất Động thì sẽ chứng đạo. Chứng đạo không có khó khăn không có mệt nhọc phải cố gắng lên quý vị.

43- THƯA HỎI CHÁNH PHÁP

Trong cuộc đời tu hành theo chánh pháp của Phật thì nên chọn lựa một bậc thiện hữu tri thức không phải là một việc dễ, vì chọn lựa bậc thiện hữu tri thức là bậc tu chứng đạo thì họ mới đủ khả năng hướng dẫn mình tu hành đúng chánh pháp của Phật. Đây là một việc khó mà trong kinh sách Phật thường nhắc nhở.

Chúng ta hãy nghe đức Phật dạy: “Trong lãnh thổ của ngươi, nếu có Sa Môn, Bà La Môn nào tu hành chân chánh, đầy đủ công đức, siêng năng, không lười biếng, xa lìa tâm kiêu mạn, phải nhẫn nhục, nhân từ, một mình ở nơi thanh vắng tu tập, một mình đạt được niết bàn, họ không những diệt trừ tham, sân, si, hơn nữa họ ở chỗ ô nhiễm mà họ không bị ô nhiễm, ở chỗ ngu si mà họ không bị ngu si ám ảnh nào, ở chỗ đắm nhiễm mà không bị đắm nhiễm, ở chỗ đáng trụ không trụ, ở chỗ đáng ở mà không ở.

Thân hành động ngay thẳng, miệng nói lời chân thật, ý nghĩ chân chánh, thân làm việc thanh tịnh, có lòng nhân từ vô hạn, biết đủ trong sự ăn mặc, và mang bát đi khất thực, để gây phúc lành cho chúng sanh. Có những hạng ngườinhư thế. Ngươi phải thỉnh thoảng tìm đến, tùy thời hỏi han về việc tu hành, thếnào là thiện, thế nào là ác, thế nào là phạm, thế nào là không phạm, người nàođáng gần, người nào không đáng gần, việc gì đáng làm và việc gì không đáng làm và pháp gì tu tập suốt ngày đêm được thanh thản, an lạc và vô sự.

Sau khi hỏi xong, ngươi hãy lấy ý mình quan sát, thấy việc nên làm thì làm, thấy việc đáng bỏ thì nên bỏ. Trong nước có những trẻ mồ côi, người già cả thì hãy chuẩn cấp, hoặc người nghèo nào khốn khổ đến xin thì cẩn thận chớ trái ý họ”. (Trường A Hàm tập I trang 310).

Khi được thân cận với bậc thiện hữu tri thức thì chúng ta thưa hỏi cặn kẻ và thực hành đúng lời dạy của Người thì kết quả giải thoát đâu phải khó khăn. Bởi gặp được bậc thiện hữu tri thức là con đường tu tập chúng ta đã đi qua được một nửa. Thế mà có người gặp được thiện hữu tri thức mà chỉ xem thường lời dạy của Người thì thật uổng cho một kiếp người. Lời dạy của thiện hữu tri thức là những vàng lời bạc những lời dạy này giúp cho chúng ta ra khỏi mọi sự khổ đau của cuộc đời này.

Khi được thiện hữu tri thức dạy bảo thì làm ngay liền không nên bỏ qua và biếng trễ, phải siêng năng tinh tấn không hề buông pháp, cứ luôn luôn ôm chặt pháp để giúp cho thân tâm bất động và không còn một ác pháp nào tác động vào tâm.

Người thiện hữu tri thức sẽ dạy chúng ta tu tập pháp Dẫn Tâm Vào Đạo thì chúng ta lại càng siêng năng cần mẫn tu tập hơn nhiều. Nhờ siêng năng tu tập nên sự chứng đạo không còn xa, chỉ nỗ lực tu tập một thời gian ngắn là chúng ta làm chủ than tâm.

44- SỐNG ĐỘC CƯ

Sống một mình tức là một bí quyết thành công trong sự tu tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết. Nhờ sống độc cư mà tâm mới lộ diện phóng niệm, khi niệm phóng ra là chúng ta tác ý tâm bất động thì niệm liền dừng lại, niệm này dừng lại thì sẽ có niệm khác khởi lên và chúng ta cứ tiếp tác ý cho đến khi không còn niệm nào khởi ra thì con đường tu tập đã thành công. Cho nên người xưa tu hành thường tìm chỗ thanh tịnh vắng vẻ như ở núi rừng.

Chúng ta hãy nghe đức Phật dạy: “Ngươi há không nghe các bậc tiền bối Phạm Chí đều ở nơi núi rừng thanh vắng, cũng như Ta ngày nay, ưa ở chỗ vắng, chớ không phải như pháp của các ông, chỉ thích ở chỗ ồn náo, nói chuyện vô ích mất nhiều ngày tháng". (Trường A Hàm tập I trang 381).

Đúng vậy, tu hành mà ở nơi ồn náo thì rất khó gọt rữa tâm mình, vì nơi đó rất nhiều pháp tác động vào sáu căn khiến sáu căn luôn luôn phóng dật theo sáu trần. Cho nên người tu hành cần phải tìm nơi vắng vẻ để gạn lọc tâm thì mới mong tâm mình thanh tịnh.

45- LỜI KHUYÊN RĂN 

Con đường tu tập không phải khó khăn, nhưng khó khăn là vì nơi đâu mọi người cứ tạo ra cảnh ồn náo, nhất là tụm năm tụm ba nói chuyện. Bởi hạnh độc cư rất cần thiết nhưng mọi người cứ xem thường vì thế mà tu mãi không thành tựu. Tu hành là bỏ hết một kiếp người mà lại tu chơi, tu lấy có hình thức thì phí cả một cuộc đời. Cho nên tu hành thì phải cố gắng tu tập như một người xông trận, một là tiêu diệt giặc sạch; hai là phải hy sinh vì Tổ quốc để đem lại sự bình an cho nhân dân.

Đứng trước giặc sinh tử, nếu chúng ta không nỗ lực tu tập thì làm sao dẹp giặc sinh tử cho xong. Hôm nay sống biết ngày mai còn sống được hay không? Tất cả các pháp đều vô thường. Cho nên tu tập thì phải đem hết sức mình ra tu tập, nếu không tận dụng toàn tâm toàn lực thì khó mà thắng được giặc sinh tử. Chúng ta hãy nghe đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo! Phải ở chỗ thanh vắng hoặc dưới gốc cây hay nơi trống trải, siêng năng tọa thiền chớ tự buông lung. Nếu nay không nỗ lực cố gắng, về sau có ăn năn cũng đã muộn. Đây là lời dạy của Ta các ngươi hãy siêng năng hộ trì.” (Trường A Hàm Tập 1 trang 462)

Lời dạy này mang đầy đủ ý nghĩa khuyên dạy chúng ta với một lòng yêu thương của đức Phật. Vì thế chúng ta không nên phụ công ơn của Người mà hãy cố gắng lên tu tập cho đến nơi đến chốn đó mới không phụ công ơn của Người.

Bài liền trước liên quan:
•  KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO. 30- Pháp chân chánh. 31- Có bảy pháp… 32- Thế nào là tỳ kheo tự thâu nhiếp tâm mình. 33- Oai nghi tế hạnh. 34- Có 5 thứ báu khó được. 35- Định không tưởng. 36- Người đệ tử chân chánh. 37- Mọi vật đều vô thường. (27.04.2014).

 

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC HAY. Thầy Thích Bảo Nguyên. (20.11.2017)  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)