DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 6  
  Số lượt truy cập: 26938  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• KINH BA MƯƠI BẢY PHÁP TRỢ ĐẠO  
Cập nhật ngày : 23.05.2014 (Đã đọc : 7286 lần )

MỤC ĐÍCH TU HÀNH CHỨNG ĐẠO LÀ TÂM VÔ LẬU

Chúng ta hãy lắng nghe các vị đại đệ tử của Phật mỗi người đều có một kinh nghiệm tu tập khác nhau, không ai tu tập giống ai nhưng kết quả tâm đều Vô Lậu. Vô Lậu là mục đích mà mọi người tu tập đều phải đạt được, như vậy mới gọi là giải thoát.

Ông A Nan trình bày sự tu tập của mình theo đặc tướng như sau:

“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

Ông A Nan đã trình bày sự hiểu biết tu hành của mình bằng cách nghe nhiều do ông làm thị giả Phật: Khi nghe Phật thuyết giảng là ông ghi nhận trong tâm từng lời nói, từng ý nghĩa, từng hành động tu tập từ thấp đến cao: sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Do sự tu tập như vậy sẽ làm sáng chói khu rừng Gosinga. Theo sự trình bày của ông A Nan tu hành rất căn bản: Nghe hiểu rồi thực hành. Khi ông A Nan trình xong sự tu tập của mình thì ông Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả Revata:

“Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ananda đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata: Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Revata, hạng tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

Tôn giả Revata trình bày chỗ tu tập của mình là giữ gìn Tâm Thanh Tịnh Bất Động trong bất cứ giờ nào, ngày nào, chỗ nào cũng ở trong trạng thái Không Tịch thì sẽ làm sáng chói khu rừng Gosinga. Đó là kinh nghiệm tu hành của tôi xin trình bày cho các Tôn giả đang có mặt trong ngôi nhà mát được nghe:

“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp tịnh chỉ, không gián đoạn tâm thanh tịnh (thiền định), thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

Khi nghe xong sự trình bày tu tập cûa Tôn giả Revata thì Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả A Na Luật, còn ông tu tập như thế nào?

“Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha: Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Anuruddha, hạng tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

Tôn giả A Na Luật trả lời qua kinh nghiệm tu hành của mình:

“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

Ngài A Na Luật trước khi gặp Phật pháp thì Ngài là người bị mù đôi mắt, nhưng khi gặp chánh pháp của Phật, Ngài nỗ lực tu tập giữ tâm thanh tịnh bất động và chứng đạt tâm Bất Động nên mỗi khi muốn nhìn thấy Ngài đều dùng Thiên nhãn của mình để thấy mọi vật chớ không còn là đôi mắt thường của chúng ta nữa. Cho nên Ngài trình bày chỉ có người tu tập có cái nhìn thanh tịnh không bị nhiễm ô các dục, không bị dao động bởi các ác pháp, cái nhìn được như vậy thì sẽ làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Khi nghe Tôn giả A Na Luật trình bày xong thì Tôn giả Xá Lợi Phật hỏi Tôn giả Đại Ca Diếp: còn Tôn giả tu tập như thế nào?

“Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa: Này Hiền giả Kassapa, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Kassapa, hạng tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

Nghe hỏi như vậy, Tôn giả Đại Ca Diếp trình bày sự tu tập của mình:

“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi; tự mình sống khất thực và tán thán đời sống khất thực; tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y; tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ; tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư; tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục; tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạnh tinh cần, tinh tấn; tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh; tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định; tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ; tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát; tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

Ngài Đại Ca Diếp trình bày sự tu tập của mình qua các hạnh buông xả của một người tỳ-kheo ly gia cắt ái, sống không gia đình, không nhà cửa, chỉ còn ba y một bát, đi xin ăn hằng ngày, ai cho sao cũng ăn được, không chê cũng không khen.

Tự mình thích sống trong rừng núi thanh vắng, tự mình thích sống đi khất thực, tự mình thích mặc y áo thô xấu, tự mình thích sống ba y một bát, không thích nhiều đồ, tự mình thích sống thiểu dục tri túc, tự mình thích sống độc cư, không thích nói chuyện với bất một người nào, tự mình thích sống không đắm nhiễm thế tục, tự mình thích sống siêng năng, tự mình thích sống giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh, tự mình thích sống tinh tấn giữ gìn tâm Bất Động, Thanh Thản, An Lạc và Vô Sự, tự mình thích sống với tri kiến giải thoát. Sống như ngài Đại Ca Diếp như vậy là đã giải thoát chứng đạo rồi còn gì mà không làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Khi ngài Đại Ca Diếp trình bày xong thì Ngài Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, còn kinh nghiệm tu hành của Ngài như thế nào?

“Hiền giả Moggallana, Tôn giả Mahakassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahamoggallana: Này Hiền giả Moggallana, khả ái thay khu rừng Gosinga!... Này Hiền giả Moggallana, hạng tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?

Khi nghe Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi như vậy thì Tôn giả Đại Mục Kiền Liên trả lời như sau:

“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai tỳ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại (không trả lời được), và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục.

Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

Tôn giả Mục Kiền Liên là người đệ nhất thần thông trong các hàng đệ tử của Phật, sao ông không đem pháp tu hành nào mà có được thần thông đó. Ở đây ông lại đem bộ luận A-tỳ-đàm ra luận bàn thì chúng tôi tin rằng đây có phải là ông Mục Kiền Liên trả lời hay là người sau thêm vào để hạ bệ các hàng đệ tử của Phật. Luận A-Tỳ-Đàm là một bộ sách lý luận chớ đâu phải là những hành động tu tập thanh tịnh làm sáng chói khu rừng Gosinga. Ở đây chúng ta không được Ngài Mục Kiền Liên trình bày sự tu tập như thế nào để trở thành một người đệ tử đệ nhất thần thông của Phật, nhưng chúng ta cũng biết thần thông đệ nhất đều xuất phát từ tâm Bất Động, dù muốn dù không thì Ngài Mục Kiền Liên phải sống trong tâm Bất Động suốt trong bảy ngày đêm thì mới gọi là đệ nhất thần thông.

Khi Tôn giả Đại Mục Kiền Liên trả lời xong liền hỏi lại Tôn giả Xá Lợi Phất: Còn Ngài tu hành như thế nào?

“Hiền giả Sariputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sariputta: Này Hiền giả Sariputta, khả ái thay, khu rừng Gosinga! Đêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi.

Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

Nghe hỏi như vậy, Tôn giả Xá Lợi Phất trình bày sự tu tập của mình để huynh đệ cùng nghe:

“Ở đây, này Hiền giả Moggallana, tỳ-kheo điều phục được tâm, không phải tỳ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào (mà) vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào (mà) vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào (mà) vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallana, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. 

Cũng vậy, này Hiền giả Moggallana, tỳ-kheo điều phục được tâm, không phải tỳ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào tỳ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào tỳ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị tỳ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.

Này Hiền giả Moggallana, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

Sự trình bày tu tập của ông Xá Lợi Phất nhiếp tâm và an trú tâm muốn hồi nào đều làm được hồi nấy.

1- Tỳ-kheo điều phục được tâm, không phải tỳ-kheo không điều phục được tâm.

2- An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.”

Khi trình bày sự tu tập cho mọi người nghe xong thì Tôn giả Xá Lợi Phất đề nghị các Tôn giả nên đem đến hỏi Phật qua kinh nghiệm tu hành của mình đúng sai để Đức Phật chỉnh sửa lại. Lời đề nghị quá hợp lý nên mọi Tôn giả đều rủ nhau đến chỗ Phật để thưa hỏi cho cặn kẽ. Nhất là mọi vị đều thuật lại những công phu tu hành của mình cho Đức Phật nghe.

Sau khi nghe các Tôn giả trình bày xong, đức Phật chỉ trả lời ngắn gọn mà không phê bình một Tôn giả nào tu tập sai pháp cả, có nghĩa là đức Phật chấp nhận các Tôn giả đều tu tập đúng nhưng có điều là các ông không khéo trả lời, chỉ thẳng tâm Bất Động. Đạo Phật tu hành rất đơn giản không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có cầu kỳ như các Tôn giả trình bày pháp tu tập.

Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật trả lời pháp môn tu hành một cách đơn giản:

“Này Sariputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các ông hãy nghe Ta nói: hạng tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sariputta, tỳ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: "Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ.” Này Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

Lời dạy của đức Phật tu hành rất đơn giản: "Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ."

Quý vị có nghe lời dạy này không? Tu hành chỉ cần ngồi kiết già hay bán già rồi khéo tác ý để giữ tâm giải thoát các lậu hoặc và không để tâm dính mắc chỗ nào cả tức là không chấp thủ.

Tu tập có như vậy mà quý vị sao bị chấp thủ quá nhiều, nào là tâm hết vọng tưởng, nào là tâm thanh tịnh, nào là khinh an hỷ lạc, nào là hơi thở nhẹ nhàng nào là vui mừng hết cỡ, nào là xúc động rơi nước mắt, nào là kiến tánh thành Phật, nào là niệm Phật nhất tâm, nào là biết vọng liền buông, nào tham công án, tham thoại đầu v.v... Tất cả những tâm niệm này là tâm chấp thủ.

Tu tập ở đây đức Phật dạy rất đơn giản, chỉ ngồi kiết già lưng thẳng rồi giữ tâm không lậu hoặc và không để tâm dính mắc một cái gì khác. Xin quý vị lưu ý: Giữ Tâm Không Lậu Hoặc không có nghĩa là giữ tâm không vọng niệm mà là Giữ Tâm Không Giận Hờn, Thương, Ghét, Lo Buồn, Sợ Hãi v.v... Ở đây có nghĩa là Tâm Thanh Thản, An Lạc và Vô Sự.

Khi đức Phật xác định pháp môn tu tập đơn giản còn các vị đệ tử trình bày pháp môn tu tập quá khó khăn và rất phức tạp.

MƯỜI MỘT TRI KIẾN GIẢI THOÁT

Tu theo Phật giáo là bắt đầu tu tập pháp ly dục ly bất thiện pháp, mà ly dục ly bất thiện pháp thì phải dùng tri kiến, nhưng tri kiến phàm phu không thể giải thoát được. Vì thế phải sử dụng tri kiến giải thoát, nhưng tri kiến giải thoát thì phải học tập. Trong đạo Phật có mười một tri kiến giải thoát. Bởi vậy người nào muốn tu theo Phật giáo để được giải thoát đều phải học những tri kiến này. Vậy mười một tri kiến giải thoát này như thế nào?

Chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật giải thích mười một tri kiến giải thoát để mọi người cùng hiểu biết rõ ràng hơn, để áp dụng vào con đường tu tập của mình đến nơi, đến chốn, để kết quả đạt được tâm Bất Động hoàn toàn.                                                            

            TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ I

Đây là tri kiến giải thoát thứ nhất, chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Chư tỳ-kheo, thế nào là tỷ-kheo không biết rõ các sắc? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo đối với sắc pháp không như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo không biết rõ các sắc.”

Câu này đức Phật dạy rất rõ, nói đến Sắc là phải hiểu: Sắc do Bốn Đại hợp thành, không có Sắc nào ngoài Bốn Đại mà có được. Vậy Sắc do Bốn Đại hợp thành là gì? Bốn đại là Đất, Nước, Gió, Lửa. Một vị tỳ-kheo tu theo Phật giáo mà không hiểu Sắc là do Đất, Nước, Gió, Lửa hợp thành thì không phải là vị tỳ-kheo đệ tử Phật.

Một người hiểu rõ Sắc là do Bốn Đại hợp thành, mà Sắc hợp thành là pháp Vô Thường, mà Vô Thường là Khổ. Do hiểu biết như vậy nên người ấy không dính mắc và không chấp đắm vào Sắc tức là không chắp đắm vào thân Tứ Đại. Không chắp đắm vào thân Tứ Đại là người có tri kiến giải thoát thứ nhất.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ II

Đây là tri kiến giải thoát thứ hai, chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Chư tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo không khéo phân biệt các tướng? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo không như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng của người đó, kẻ trí và nghiệp tướng của người đó. Như vậy, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo không khéo phân biệt các tướng.”

Tri kiến thứ nhất nói về Sắc còn ở đây đức Phật dạy tri kiến thứ hai nói về Nghiệp Tướng. Vậy Nghiệp Tướng là cái gì? Như quý vị đều biết con người ai cũng có thân, nhưng thân do bốn đại: Đất, Nước, Gió, Lửa hợp lại mà thành gọi là Sắc Thân.

Nhưng tại sao mọi người lại có sắc thân khác nhau; người có sắc thân to lớn; người có sắc thân nhỏ bé; người có sắc thân đẹp đẽ, người có sắc thân xấu xí; người có sắc thân trắng trẻo; người có sắc thân đen thui, đen thít v.v... Tất cả những hình tướng sai khác của thân người này không giống với thân người kia đều được gọi là Nghiệp Tướng.

Cho nên trên sắc thân của mọi người đều có Tướng Riêng Biệt. Vậy tướng riêng biệt của mọi người này từ đâu mà có?

Do từ Nghiệp mà có các Tướng riêng này. Vậy Nghiệp là cái gì? Nghiệp là những hành động của Ý Thức, của Lời Nói, của Tay Chân. Ba chỗ này thường là nơi xuất phát Nghiệp. Cho nên Nghiệp gồm có Nghiệp Thiện, Nghiệp Ác.

Nghiệp Thiện là những hành động thân, miệng, ý làm việc lành, còn Nghiệp Ác là do hành động thân, miệng, ý làm việc ác. Làm việc lành là không làm khổ mình khổ người, còn làm việc ác là làm khổ mình khổ người. Cho nên trong đạo Phật xác định rất rõ thiện ác phân minh không thể lầm lộn được.

Các tướng riêng biệt của mỗi người khác nhau là do làm thiện nhiều hay làm thiện ít hoặc làm ác nhiều hay làm ác ít. Do sống ác hay thiện mà tướng có đẹp xấu, có cao thấp, có tật nguyền hay không tật nguyền. Có kẻ ngu lại có người thông minh đó đều do nghiệp mà ra cả. Tướng theo nghiệp mà có nên nghiệp đâu thì xác định tướng đấy. Nhờ có tri kiến về Tướng nên chúng ta sống trong chánh nghiệp thường làm những điều thiện và tăng trưởng những điều thiện. Đây là tri kiến về Nghiệp Tướng. Nhờ hiểu biết về Nghiệp Tướng nên thân tâm không làm điều ác. Đó là tri kiến giải thoát thứ hai trong đạo Phật.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ III

Đây là tri kiến giải thoát thứ ba. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Chư tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thọ dụng dục tầm khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại, thọ dụng sân tầm khởi lên... (như trên)... thọ dụng hại tầm khởi lên... (như trên)... thọ dụng các ác bất thiện pháp khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại. Như vậy, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét.”

Nếu một người có tri kiến giải thoát thứ ba này thì rất thông suốt những tâm niệm ham muốn, những tâm niệm sân hận, những tâm niệm làm khổ mình làm khổ người. Khi những tâm niệm đó khởi lên nhất định họ không bao giờ nuôi dưỡng lòng ham muốn, lòng sân hận, lòng làm khổ mình khổ người. Họ sẽ chấm dứt, diệt ngay những tâm niệm ấy. Những tâm niệm ấy là những tâm niệm đau khổ.

Bởi tri kiến giải thoát thứ ba là tri kiến hiểu về lòng ham muốn, về lòng sân giận, về những ý suy nghĩ làm khổ mình, khổ người. Khi tri kiến hiểu rõ các ác pháp đó thì khi tâm niệm khởi lên những ác pháp đó nó liền diệt và loại trừ ra khỏi tâm.

              Tóm lại chúng ta đã học được ba tri kiến giải thoát:
              1- Tri kiến về Sắc Thân do Bốn Đại hợp thành.
              2- Tri kiến về Nghiệp Tướng.
              3- Tri kiến về Dục Tầm, Sân Tầm, Hại Tầm.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ IV

Kế tiếp chúng ta học tri kiến thứ tư. Muốn hiểu rõ tri kiến giải thoát thứ tư thì chúng ta hãy nghe lời dạy của đức Phật:

“Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo không băng bó vết thương? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng.

Những nguyên nhân gì làm cho con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; tỳ-kheo không tự chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì con mắt, không thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng.

            Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; tỳ-kheo không chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì ý căn, không thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo không băng bó vết thương.”

Tri kiến giải thoát thứ tư là tri kiến phòng hộ sáu căn tức là sự hiểu biết giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình không cho dính mắc chấp đắm sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Muốn giữ gìn được như vậy thì phải sống độc cư trọn vẹn. Độc Cư là một phương pháp phòng hộ sáu căn đệ nhất. Người biết sống Độc Cư là người có tri kiến giải thoát thứ tư.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ V

Tri kiến giải thoát thứ năm, muốn hiểu rõ nó chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo không xông khói? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo không có thuyết giảng rộng rãi cho các người khác biết Chánh pháp mình được nghe, được thọ trì. Như vậy, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo không xông khói.”

Khi chúng ta đã thông suốt bốn tri kiến giải thoát trên đây là chúng ta có một đời sống bình an không có một ác pháp nào tác động làm tâm chúng ta buồn khổ, lo rầu, ưu bi phiền não. Khi tâm chúng ta được giải thoát như vậy, chúng ta nên đem dạy lại cho người khác hiểu biết để mọi người được giải thoát như chúng ta.

Đến tri kiến giải thoát thứ năm Phật dạy: Mình nên đem những điều hiểu biết của mình đã được giải thoát dạy lại cho người khác để họ cùng giải thoát như mình. Tri kiến giải thoát thứ năm là thực hiện lòng tốt của mình với mọi người, đem sự lợi ích của mình cho mọi người để cùng nhau lợi ích.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ VI

Đến tri kiến giải thoát thứ sáu, chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

Và này, các tỳ-kheo, như thế nào là tỳ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những tỷ-kheo đa văn được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì matika (các bản tóm tắt) nhưng không hỏi, không trả lời các vị ấy: "Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? Ý nghĩa này là gì?" Những bậc Tôn giả ấy không làm cho hiển lộ những điều chưa hiển lộ, không làm cho rõ ràng những điều chưa được rõ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị ấy không đoạn trừ nghi tỳ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua.”

            Tri kiến giải thoát thứ sáu là tri kiến giải trừ mọi tâm nghi ngờ, nó giúp cho mọi người không còn nghi ngờ Chánh pháp của Phật. Đạo Phật dạy tu tập sẽ làm chủ bốn sự đau khổ: Sinh, Già, Bệnh, Chết, nhưng có người không tin cho rằng lời dạy này là lường gạt người chớ làm gì mà làm chủ được sự sống chết. Khi gặp trường hợp như vậy chúng ta giải thích cho họ hiểu biết cách thức làm chủ như thế nào.

Làm chủ Sinh tức là làm chủ cuộc sống, làm chủ cuộc sống là làm chủ tâm mình. Ví dụ có người chửi mắng mình, mình không chửi mắng lại mà tâm vẫn an vui không giận hờn oán ghét người đó.

Muốn được tâm như vậy thì chúng ta phải hiểu: Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta đều do nhân quả tác thành, vì thế những ác pháp đến với chúng ta là do trước kia chúng ta đã mang nhân quả ác đến với những người khác, bây giờ phải trả quả do nhân đời trước đã làm. Hiểu nhân quả được như vậy là tâm chúng an vui mà không tức giận phiền não. Hiểu được như vậy tức là tri kiến giải thoát chúng ta đã có.

Trên đời người ta hay tự làm khổ mình bằng cách nghi ngờ người ta nói xấu mình, người ta hại mình v.v... Do sự nghi ngờ này mà làm chúng ta rất đau khổ, tâm không được an vui. Nghi ngờ là một ác pháp, chúng ta hãy cố gắng khắc phục và diệt trừ cho hết tâm Nghi Ngờ. Hết tâm Nghi Ngờ là được giải thoát.

Tri kiến giải thoát thứ sáu là tri kiến dẹp trừ tâm Nghi Ngờ, phá vỡ tâm Nghi Ngờ. Nếu chúng ta có tri kiến giải thoát thứ sáu là chúng ta không còn tâm Nghi Ngờ. Vì vậy chúng ta luôn luôn hãy sống với tri kiến giải thoát thứ sáu để cứu mình ra khỏi tâm Nghi Ngờ.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ VII

Tri kiến giải thoát thứ bảy là tri kiến thông suốt pháp và luật của đức Phật. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Và chư tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo không biết rõ chỗ nước uống? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo, trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, không chứng đạt nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, không chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo không biết chỗ nước uống.”

Tri kiến giải thoát thứ bảy là tri kiến pháp tu tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết và giới luật đức hạnh của Phật. Đó là tri kiến rất cần thiết cho một người tu theo Phật giáo. Vì không hiểu giới luật và pháp tu tập làm chủ sinh già, bệnh, chết của Phật giáo. Cho nên tri kiến giải thoát thứ bảy này đã xác định được ai là đệ tử Phật và ai là đệ tử của ngoại đạo. Khi chúng ta có tri kiến giải thoát thứ bảy thì ngoại đạo không lường gạt chúng ta được. Bởi vậy kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông chỉ gạt những người không có tri kiến thứ bảy. Khi chúng ta đã học đến tri kiến thứ bảy đã làm chúng ta sáng suốt về Phật giáo hơn nữa.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ VIII

Tri kiến giải thoát thứ tám là một tri kiến giúp chúng ta hiểu rõ đường lối tu tập của Phật giáo. Vậy chúng ta hãy nghe đức Phật dạy:

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo không biết về con đường? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo không như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo không biết đến con đường.”

Đến với đạo Phật là đến với con đường Bát Chánh Đạo, chỉ đạo Phật mới có con đường này. Cho nên tri kiến giải thoát thứ tám xác định cho chúng ta biết, người đến với đạo Phật mà không hiểu Bát Chánh Đạo là không có tri kiến giải thoát thứ tám.

Khi có tri kiến giải thoát thứ tám thì tà giáo ngoại đạo không thể lừa đảo được. Tà giáo ngoại đạo không thể có con đường Bát Chánh Đạo. Khi có tri kiến giải thoát thứ tám thì Đại Thừa và Thiền Tông không thể lừa gạt chúng ta được, mặc dù chúng mạo nhận Bát Chánh Đạo nhưng chúng chẳng rõ phương pháp và cách tu tập. Ví dụ:

               1- Lớp Chánh Kiến là phải học tri kiến giải thoát thứ nhất thấy Sắc là do bốn duyên hòa hợp mà thành.
               2- Chánh Tư Duy là sự suy tư không làm khổ mình khổ người và khổ tất cả chúng sinh.
               3- Chánh Ngữ là lời nói phải ôn tồn nhã nhặn nhẹ nhàng êm ái khiến người nghe được an vui, không buồn rầu tức giận.
               4- Chánh Nghiệp là tất cả hành động thân miệng ý đều phải thực hiện những điều lành và luôn luôn ngăn những hành động làm những điều ác.
               5- Chánh Mạng là nuôi mạng sống bằng những thực phẩm không có giết hại chúng sinh, không có sự đau khổ, không có kêu la thảm thiết. Trong năm lớp này là các lớp học tập Giới Luật Đức Hạnh mà đức Phật đã dạy trong kinh Phạm Võng.
              6- Lớp Chánh Tinh Tấn thì chúng ta tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần, hằng ngày ngăn ác và diệt ác pháp.
              7- Lớp Chánh Niệm thì chúng ta tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ.
              8- Lớp Chánh Định thì chúng ta nhập các loại định như: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền và thực hiện Tam Minh. Đến đây là con đường tu tập của Phật giáo đã xong.

Tri kiến giải thoát thứ tám là tri kiến hiểu biết về Bát Chánh Đạo.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ IX

Tri kiến giải thoát thứ chín là tri kiến Tứ Niệm Xứ, nếu cuộc đời tu hành của chúng ta mà không có tri kiến này thì không bao giờ chúng ta tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết được. Bởi vậy tri kiến Tứ Niệm Xứ rất quan trọng cho cuộc đời tu hành của chúng ta. Ngoài pháp môn Tứ Niệm Xứ, đạo Phật không còn có một pháp môn nào tu chứng đạo cả. Cho nên ngoại đạo không bao giờ tu chứng đạo vì không có pháp môn Tứ Niệm Xứ. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ? Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo không như thật biết về Bốn Niệm Xứ. Như vậy này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ.”

Như vậy pháp môn Tứ Niệm Xứ rất quan trọng cho con đường tu tập của chúng ta đi đến giải thoát. Tri kiến giải thoát thứ chín là điều chúng ta cần phải học tập cho nhuần nhuyễn. Khi tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ thì phải tu tập cho đúng cách của pháp môn Tứ Niệm Xứ. Trong kinh Tứ Niệm Xứ Phật dạy Trên Thân Quán Thân nhưng nếu ai chưa tu tập Tứ Chánh Cần mà vội tu tập Tứ Niệm Xứ thì ngay đó bị ức chế tâm mà trở thành bị tẩu hỏa nhập ma. Cho nên tu tập Tứ Niệm Xứ là tâm phải hết hôn trầm thùy miên và loạn tưởng, nếu còn hôn trầm loạn tưởng thì không nên tu tập Tứ Niệm Xứ. Cho nên, trong tri kiến giải thoát nó đứng vào hàng thứ chín, như vậy người sơ cơ mới tu tập thì không nên tu tập mà chỉ biết trong học tập.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ X

Tri kiến giải thoát thứ mười là tri kiến biết đủ tức là tri kiến thiểu dục tri túc. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các tỳ-kheo, khi các vị tại gia vì lòng tin cúng dường các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, tỳ-kheo không biết nhận lãnh cho được vừa đủ. Như vậy, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt.”

Người tu sĩ Phật giáo mà không biết đủ, không thiểu dục tri túc là không phải là người tu sĩ Phật giáo mà là người tu sĩ của ngoại đạo. Người tu sĩ ngoại đạo tham danh, tham lợi, ham mê của cúng dường của đàn na thí chủ.

Tri kiến giải thoát thứ mười xác định cho chúng ta biết: làm tu sĩ Phật giáo thì phải buông xả tất cả vật chất xuống hết, đời sống chỉ còn ba y một bát, lúc nào cũng xin ăn, ai cho gì ăn nấy không nên khen chê. Ăn mặc bằng vải thô xấu, vá víu mới đúng hạnh người tu sĩ ra khỏi cuộc đời. Được nghĩ và sống như vậy là người đã thực hiện tri kiến giải thoát thứ mười, tri kiến buông xả, tri kiến thiểu dục tri túc mà người tu sĩ cần phải thực hiện không thể viện cớ này hay cớ khác.

TRI KIẾN GIẢI THOÁT THỨ XI

Tri kiến giải thoát thứ mười một là tri kiến tôn kính tôn trọng những bậc tu hành chân chánh, giới luật tinh nghiêm. Không được khinh khi những bậc Trưởng Lão trong hàng tu sĩ mặc dù họ không lãnh chức vụ gì trong giáo hội, nhưng họ là những người đã tu tập lâu năm, chúng ta là những người hậu học nên phải cung kính tôn trọng họ. Khi gặp họ phải biết nhường chỗ ngồi tốt cho họ hoặc giúp đỡ họ khi họ đi đứng không vững vàng.

Hành động biết kính trên nhường dưới là tri kiến giải thoát thứ mười một mà một người tu sĩ như chúng ta rất cần học hỏi để trở thành một thói quen cung kính và tôn trọng mọi người. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật day:

“Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo, đối với những Thượng tọa, Trưởng Lão xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt?

 Ở đây, này các tỷ-kheo, đối với Thượng tọa, Trưởng Lão xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có thân nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có khẩu nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có ý nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo đối với những Thượng tọa, Trưởng Lão xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt.

 Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp này thì không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp, Luật này.”

Mười một tri kiến giải thoát này nếu ai biết áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình cũng đã thấy tâm Bất Động chớ đâu cần phải tu tập nhiều pháp đâu. Mười một tri kiến này tu tập cũng đủ cho chúng ta ly dục ly bất thiện pháp. Bởi vậy đạo Phật đâu có ngồi thiền nhiều để ức chế ý thức mà chỉ có xả tâm thành tựu đạo giải thoát. Thiền của Phật giáo là Tâm Bất Động trong việc xả tâm ly dục ly bất thiện pháp chứ không phải tâm Bất Động bằng cách ức chế ý thức không cho niệm khởi như kiểu Thiền Tông Trung Quốc

Đọc qua bài kinh này, chúng ta phải nhớ lấy mười một tri kiến Giải Thoát ở trên để chúng ta tu tập không sai đường lạc lối, và cũng để không pháp môn nào của ngoại đạo lừa gạt mình được.

CÁC QUẢ TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO

Một người tu theo đạo Phật mà không biết các quả tu trong Phật giáo thì cũng giống như người đi đường mà không biết những chặng đường đến đâu.

Ví dụ: Như đoạn đường từ Trảng Bàng về TP Hồ Chí Minh phải đi qua bao nhiêu chặng đường:

               1- Chặng đường thứ nhất từ Trảng Bàng đến Suối Sâu
               2- Chặng đường thứ hai từ Suối Sâu đến Suối Cụt
               3- Chặng đường thứ ba từ Suối Cụt đến Củ Chi
               4- Chặng đường thứ tư từ Củ Chi đến Tân Phú Trung.
               5- Chặng đường thứ năm từ Tân Phú Trung đến Hốc Môn.
               6- Chặng đường thứ sáu từ Hốc Môn đến Trung Chánh
               7- Chặng đường thư bảy Từ Trung Chánh đến Tham Lương
               8- Chặng đường thứ tám từ Tham Lương đến Bà Quẹo
               9- Chặng đường thứ chín từ Bà Quẹo đến Bảy Hiền
              10- Chặng đường thứ mười từ Bảy Hiền đến Bến Thành.

Con đường tu tập theo Phật giáo cũng vậy, mỗi chặng đường tu tập đều có kết quả. Cho nên người tu sĩ tu tập phải nhận biết điều này để khi tu tập tới đâu mình đều biết, nếu không biết thì giống như người mù rờ voi. Vậy chúng ta hãy lắng nghe lời đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, tại Magadha có người chăn bò vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, không quan sát bờ bên này sông Hằng, không quan sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ không có thể lội qua được. Này các tỳ-kheo, những con bò xô nhau tụ lại giữa dòng sông Hằng và gặp tai nạn tại nơi đây.”

Một ví dụ đức Phật đã giúp chúng ta thấy rất rõ ràng vì vô trí của người chăn bò mà bầy bò gặp tai nạn giữa dòng sông Hằng. Cho nên người tu hành để tìm cầu sự làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì phải biết tất cả các quả chứng trên đường tu tập. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy tiếp:

“Cũng vậy, này các tỳ-kheo, có những Sa-Môn hay Bà-La-Môn không khéo biết đời này, không khéo biết đời sau, không khéo biết ma giới, không khéo biết phi ma giới, không khéo biết tử thần giới, không khéo biết phi tử thần giới, những ai nghĩ rằng cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài.”

Trên đường tu tập tìm cầu sự làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì phải rõ đời sống hiện tại, đời sống về tương lai có nhiều điều làm đau khổ và có nhiều điều không làm đau khổ, có nhiều điều xảy ra chết chóc, nhưng có nhiều điều không xảy ra chết chóc.  

Do những điều đó khiến cho chúng ta quá sợ hãi nên dễ tin theo những người ngoại đạo Bà La Môn họ nói ma, nói quỷ, nói linh hồn người chết hiện ra chỗ này chỗ khác. Cho nên chúng ta đừng nghe theo và cũng đừng tin ai cả. Vì tin và nghe theo thì cũng giống như người chăn bò vô trí nên bầy bò gặp tai nạn giữa dòng sông Hằng. Còn ngược lại người chăn bò có trí cho những con bò già đi trước thăm dò đường và những con bò con đi sau cùng nhờ đó mà bầy bò được an toàn qua sông. Muốn cho con đường tu tập được đến nơi đến chốn thì chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Ngày xưa, này các tỳ-kheo, tại Magadha có người chăn bò có trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, sau khi quán sát bờ bên này sông Hằng, sau khi quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ có thể lội qua được. Người đó đuổi bò cho đi đầu những con bò đực già, những con đầu đàn. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Rồi người đó đưa qua những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có được huấn luyện. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Rồi người đó đuổi qua những con bò đực con (lớn), những con bò cái con (lớn). Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Rồi người đó đuổi qua những con bò con (nhỏ), những con bò con còn bú. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Này các tỳ-kheo, thời xưa ấy có con bò còn nhỏ mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, cũng qua bờ bên kia một cách an toàn.”

So sánh bầy bò do người chăn bò có trí mà bầy bò qua sông Hằng được an toàn, cũng như các con được người đã tu chứng đạo hướng dẫn, nên chỗ nào tu bị ức chế tâm, chỗ nào bị tưởng họ đều biết rất rõ, cho nên họ sẽ hướng dẫn những người tu hành đến nơi đến chốn mà không còn sợ sai lạc. Những điều tu hành ở đây không phải dẹp vọng tưởng mà hãy xem tâm mình còn bị ác pháp tác động hay không?

Nếu tâm không bị ác pháp tác động được thì đó là chứng đạo chứ không phải chứng đạo là tâm không còn vọng niệm. Đức Phật đã dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp.” Như vậy rõ ràng là tâm còn vọng niệm nhưng vọng niệm thiện chớ không còn vọng niệm ác.

Cho nên kẻ nào tu tập ức chế ý thức hết vọng niệm là sai. Phật không có dạy tu tập như vậy. Muốn biết rõ những điều này chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, ví như những con bò đực già, đầu đàn, chúng đã lội cắt ngang dòng sông Hằng và qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỳ-kheo, các tỳ-kheo là những bậc A-la-hán đã đoạn trừ các lậu hoặc, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, các hữu kiết sử đã hoàn toàn bị đoạn diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Những vị này, sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương, đã qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Những người tu hành đoạn trừ các lậu hoặc, các kiết sử đã đoạn diệt cho nên không có ác pháp nào tác động đến tâm họ được, họ là người giải thoát hoàn toàn cũng giống như các con bò đực lớn mạnh và được điều khiển chúng đã lội qua dòng sông đến bờ bên kia được bình an.

Trên đây là những vị tu hành đã đoạn trừ các lậu hoặc và các hữu kiết sử, đã chứng quả A-la-hán, họ đã đạt được mục đích tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Đạo Phật tu tập đến đây đã hoàn thành không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả. Đây là chặng đường thứ nhất được vào Niết Bàn nếu ai quyết tâm tu tập diệt trừ các lậu hoặc và các kiết sử.

Chặng đường thứ hai cũng được vào Niết Bàn. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, ví như những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có huấn luyện, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở tại đấy nhập Niết-Bàn, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Tu theo Phật giáo nhập vào Niết Bàn không phải khó. Cho nên những bậc đã chứng quả A-la-hán vào Niết bàn được thì như lời Phật dạy ở trên chỉ cần diệt trừ được năm hạ phần kiết sử thì khi chết vẫn nhập vào Niết Bàn rất dễ dàng.

               Năm hạ phần kiết sử gồm có:
               1- Thân kiến kiết sử;
               2- Nghi kiết sử;
               3- Giới cấm thủ kiết sử;
               4- Tham kiết sử;
               5- Sân kiết sử

Chỉ cần diệt trừ năm hạ phần kiết sử này thì chết cũng vào Niết Bàn một cách dễ dàng không thua gì một bậc đã tu chứng quả A-la-hán. Trên đây là quả thứ hai của những người được vào Niết Bàn. Dưới đây là quả thứ ba của những người tu theo Phật giáo chỉ cần diệt trừ ba kiết sử và làm muội lược tâm tham, sân, si thì cũng nhập vào Niết Bàn không phải khó khăn

                Ba kiết sử gồm có như sau:
               1- Thân kiến kiết sử
               2- Nghi kiết sử
               3- Giới cấm thủ kiết sử

Đây là chặng đường vào Niết Bàn thứ ba. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy chặng đường vào Niết Bàn thứ ba:

“Ví như, này các tỳ-kheo, những con bò đực con (lớn), những con bò cái con (lớn), những con bò này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo đã diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa, sẽ diệt tận khổ đau. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Đúng vậy, chỉ cần diệt trừ ba kiết sử và làm giảm thiểu tâm tham, sân, si thì cũng vào Niết Bàn dễ dàng. Chặng đường vào Niết Bàn thứ tư chỉ cần diệt trừ ba kiết sử:

              1- Thân kiến kiết sử
              2- Nghi kiết sử
              3- Giới cấm thủ kiết sử.

Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Ví như, này các tỳ-kheo, những con bò con (nhỏ), những con bò con còn bú, những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác. Những vị này lội cắt ngang dòng sông Ma vương và sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Chặng đường thứ tư chỉ cần diệt trừ ba kiết sử thì chúng ta cũng nhập vào Niết bàn một cách dễ dàng sau khi bỏ xác thân này. Dưới đây là chặng đường thứ năm, nếu chúng ta hành đúng pháp là chúng ta cũng vào Niết bàn không có khó khăn. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Ví như, này các tỳ-kheo, con bò con còn nhỏ, mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo tùy pháp hành, tùy tín hành, những vị này sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Chặng đường thứ năm này tùy theo pháp thiện hay ác mà giữ gìn tâm thanh thản an lạc thì cũng vào Niết Bàn một cách dễ dàng không có khó khăn. Chặng đường thứ năm Đức Phật dạy chúng ta không diệt trừ tâm tham, sân, si, mạn, nghi và kiết sử nhưng chỉ có giữ gìn tâm thanh thản, an lạc thì cũng vào Niết Bàn. Như vậy Phật giáo tu tập vào Niết Bàn đâu có khó khăn mệt nhọc chỉ cần biết sống thanh thản, an lạc là vào Niết bàn rồi. Đến đây quý vị có thấy điều dễ dàng này không?

Chặng đường thứ sáu đức Phật dạy chỉ có lòng tin nơi đức Phật mà khéo đối xử với mọi người mọi hoàn cảnh, không làm mình khổ, người khác khổ và khổ tất cả chúng sinh thì mình cũng vào Niết Bàn không có khó khăn. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, nay Ta khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết đối với Ma giới, khéo biết đối với phi Ma giới, khéo biết đối với tử thần giới, khéo biết đối với phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin nơi Ta, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.”

Chỉ cần tin nơi lời Phật dạy, biết đối xử với mọi người không làm khổ mình khổ người và tất cả chúng sinh thì khi bỏ thân này cũng vào Niết Bàn một cách dễ dàng không có khó khăn.

Bởi đạo Phật có sáu chặng đường vào Niết Bàn chúng ta muốn đi chặng nào cũng được chỉ tùy vào sức lực, vào khả năng của mình mà chọn lấy nẻo vào Niết Bàn. Xét qua sáu chặng đường tu tập này chúng ta mới thấy đạo Phật tu hành tùy theo căn cơ và trình độ của mỗi người, nhưng người nào cũng được vào Niết Bàn.

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC HAY. Thầy Thích Bảo Nguyên. (20.11.2017)  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)