DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 2  
  Số lượt truy cập: 26992  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• NGHĨA CÁC TỪ PHẬT HỌC CHƠN NHƯ - Tỳ khưu Từ Quang  
Cập nhật ngày : 03.05.2014 (Đã đọc : 6189 lần )
NGHĨA CỦA CÁC CÂU, CÁC TỪ - Kì 4

Vần C

Canh cuối (ThờiKhóa) tức là buổi khuya, sau khi thức dậy phải đi kinh hành hoặc ngồi nếu không buồn ngủ, luôn luôn không được lười biếng ham ngủ. Ban ngày cũng như ban đêm, đầu canh hay cuối canh đều duy nhất tu hành có một mục đích là xả tâm tẩy trừ các chướng ngại pháp. Trước khi nằm ngủ phải tập tỉnh thức rồi mới ngủ, không được nằm xuống là ngủ ngay liền.

Canh giữa (ThờiKhóa) tức là lúc nửa đêm chỉ có nằm nghiêng giữ chánh niệm tỉnh giác và phải luôn nghĩ đến thức dậy, chứ không được lười biếng nằm ráng, hể thấy thức ngủ thì nên thức dậy ngay liền để tu tập rèn luyện tẩy trừ tâm khỏi chướng ngại pháp tức là ly dục ly ác pháp.

Cá nhân thanh tịnh (Đường Về.7) là cá nhân phải có đạo đức, là một tu sĩ Phật giáo thì giới luật phải được nghiêm chỉnh, không vi phạm, không bẻ vụn giới luật.

Các căn (PhậtDạy.2) Trong thân chúng ta có sáu căn: 1- Nhãn căn, 2- Nhĩ căn, 3- Tỷ căn, 4- Thiệt căn, 5- Thân căn, 6- Ý căn.

Các căn được chế ngự (CầnBiết.4) Trong thân chúng ta có sáu căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn, Thân căn và Ý căn. Chế ngự nghĩa là làm cho nó giảm bớt, không còn tăng trưởng, không còn phát triển, không còn dính mắc với sáu trần, làm cho nó không còn dính mắc sáu trần nữa, không làm theo ý muốn. Trước khi làm theo ý muốn thì phải quán sát nên làm hay không nên làm, nên làm là làm không có dục xen vào, có dục xen vào nhất định không làm. Ví dụ 1: Chưa đến giờ ăn mà bụng đói muốn ăn, thì nhất định không ăn, chờ đúng giờ mới ăn. Đó là chế ngự ăn uống.

Các hành ác bị diệt (12Duyên) là người thông suốt Giới Luật Đức Hạnh. Giới Luật Đức Hạnh trong pháp tu hành của Phật giáo từ thấp đến cao. Phải theo sự phân chia pháp môn tu tập từ thấp đến cao mà Đức Phật đã tuyên bố: “Giới, Định, Tuệ”.

Các pháp ức chế thân tâm (ĐườngVề.4) không thể tu tập đi đến giải thoát được, không thể làm chủ sự sống chết và chấm dứt luân hồi của kiếp người. Từ bỏ và viễn ly các pháp đó. (GNCN ??)

Các pháp vô thường (PhậtDạy.4) không có một vật gì là thường hằng bất biến, luôn luôn biến đổi từng phút từng giây, sự vô thường không chờ đợi một ai, một khi nó đã đến thì không từ bỏ một người nào cả. Không thấy các pháp vô thường thì tâm không ly dục ly ác pháp được, dễ sanh ra dính mắc và chấp đắm các pháp. Không ly dục ly ác pháp được thì không làm sao có được sự giải thoát, sống sẽ làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Do các pháp vô thường nên không có pháp nào là ta, không có pháp nào là của ta, không có pháp nào là bản ngã của ta.

Các pháp Yết Ma (TâmThư.2) là những qui cụ của đoàn thể chúng tăng để điều hành người trên kẻ dưới trong Tăng đoàn có thứ bậc như kỷ luật quân đội. Các pháp Yết Ma còn là những nghi thức, nghi lễ truyền giới, thọ giới cho các giới tử mà người tu sĩ Phật giáo khi lãnh chúng, lãnh đạo giáo hội cần phải thông suốt. Các pháp Yết Ma gồm chung tất cả pháp thuộc về giới đàn, thành lập giới đàn, giới đức, giới hạnh, giới hành, giới tướng và giới thể, giáo trình, giáo án về kinh, luật, luận của Phật giáo. Muốn hiểu biết các pháp Yết Ma thì phải tu học từ căn bản đến chuyên sâu giới luật. Không học thì không hiểu, không hiểu thì không biên soạn được. Người tu chứng Tam Minh thì tất cả đều thông suốt, nhưng tu mà phạm giới thì không bao giờ tu chứng được Tam Minh.

Các quả tu chứng của Phật giáo (TrợĐạo) Con đường vào Niết Bàn tức Con đường tu tập theo Phật giáo mỗi chặng đường đều có kết quả. Cho nên người tu sĩ tu tập phải nhận biết điều này để khi tu tập tới đâu mình đều biết. Những điều tu hành ở đây là hãy xem tâm mình còn bị ác pháp tác động hay không? Nếu tâm không bị ác pháp tác động được thì đó là chứng đạo.

1- Chặng đường vào Niết Bàn thứ nhất: Những người tu hành đoạn trừ các lậu hoặc, đoạn trừ các kiết sử cho nên không có ác pháp nào tác động đến tâm họ được, họ là người giải thoát hoàn, là những vị tu hành đã đoạn trừ các lậu hoặc và các hữu kiết sử, đã chứng quả A-la-hán, họ đã đạt được mục đích tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Đạo Phật tu tập đến đây đã hoàn thành không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả.

2- Chặng đường thứ hai: Những người tu hành chỉ cần diệt trừ được năm hạ phần kiết sử, khi chết vẫn nhập vào Niết Bàn rất dễ dàng.

3- Chặng đường thứ ba Đức Phật dạy: “Những tỳ-kheo diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác.”

4- Chặng đường thứ tư: chỉ cần diệt trừ ba kiết sử thì cũng nhập vào Niết bàn sau khi bỏ xác thân này.

5- Chặng đường thứ năm Đức Phật dạy: “Những tỳ-kheo tùy pháp hành, tùy tín hành, những vị này sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.” Chặng đường thứ năm này tùy theo pháp thiện hay ác mà giữ gìn tâm thanh thản an lạc thì cũng vào Niết Bàn. Chặng đường thứ năm Đức Phật dạy chúng ta không diệt trừ tâm tham, sân, si, mạn, nghi và kiết sử nhưng chỉ có giữ gìn tâm thanh thản, an lạc thì cũng vào Niết Bàn.

6- Chặng đường thứ sáu: chỉ có lòng tin nơi Đức Phật mà khéo đối xử với mọi người mọi hoàn cảnh, không làm mình khổ, không làm người khác khổ và tất cả chúng sinh khổ thì mình cũng vào Niết Bàn. Đức Phật dạy: “Này các tỳ-kheo, nay Ta khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết đối với Ma giới, khéo biết đối với phi Ma giới, khéo biết đối với tử thần giới, khéo biết đối với phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin nơi Ta, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.”. Chỉ cần tin nơi lời Phật dạy, biết đối xử với mọi người không làm khổ mình khổ người và tất cả chúng sinh thì khi bỏ thân này cũng vào Niết Bàn. Bởi đạo Phật có sáu chặng đường vào Niết Bàn chúng ta muốn đi chặng nào cũng được chỉ tùy vào sức lực, vào khả năng của mình mà chọn lấy nẻo vào Niết Bàn.

Cách đảnh lễ (OaiNghi) Trước khi đảnh lễ, người nam hay người nữ đều phải đứng trước bàn thờ Phật, tổ tiên hay đối tượng để đảnh lễ. Ðứng thẳng người, hai tay chắp lại để trước ngực rồi đưa lên trán cúi đầu xá, rồi đưa hai tay xuống ngực, hai chân từ từ quỳ xuống, hai bàn tay mở ra úp xuống mặt bằng, đưa thẳng các ngón tay về phía trước, đầu cúi xuống trán chạm vào bàn tay. Sau khi trán chạm vào lưng bàn tay thì hai tay chống thân đứng dậy, nhưng hai chân vẫn quỳ, lúc bấy giờ hai tay chắp lại để trước ngực rồi nâng lên trán, đầu cúi xuống hai tay vẫn còn chắp từ từ hạ xuống theo thân cúi xuống, lạy lần thứ hai và lần thứ ba cũng vậy. Cuối cùng hai tay vẫn chắp đặt trước ngực, hai chân từ từ đứng dậy, đồng thời hai tay vẫn chắp đưa lên trán, đầu cúi xuống xá, hai tay vẫn chắp nhưng từ từ hạ xuống ngực. Lạy ba lạy và xá một xá là đủ. Lạy bình thường thì úp lòng bàn tay xuống. Lạy sám hối thì lật ngữa lòng bàn tay lên. Lạy người còn sống thì hai bàn tay để ngang nhau. Lạy người đã chết thì hai bàn tay đưa thẳng về phía trước. Giáo Ðoàn Phật Giáo là theo gót chân Phật, nên lạy ba lạy đơn giản mà thôi.

Cách đẩy lui chướng ngại của tâm (MuốnChứngĐạo) thì dùng đề mục 7 của Định Niệm Hơi Thở: “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra”. Phải tập chuyên cần cho đến khi có kết quả thực sự của đề mục này thì có lợi ích rất lớn cho con đường tập luyện.

Cách đẩy lui chướng ngại của thân (MuốnChứngĐạo) thì dùng đề mục 5 của Định Niệm Hơi Thở: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Phải tập chuyên cần cho đến khi có kết quả thực sự của đề mục này thì có lợi ích rất lớn cho con đường tập luyện.

Cách đẩy lui tâm si, đẩy lui sự buồn ngủ, đẩy lui trạng thái lười biếng (MuốnChứngĐạo) thì dùng đề mục 18 của Định Niệm Hơi Thở: “Với tâm định tỉnh tôi biết tôi hít vô; với tâm định tỉnh tôi biết tôi thở ra”. Phải tập chuyên cần cho đến khi có kết quả thực sự của đề mục này thì có lợi ích rất lớn cho con đường tập luyện.

Cách để ý thức nhận xét sự hoạt động của tâm theo từng hơi thở ra vô (MuốnChứngĐạo) thì dùng đề mục 6 của Định Niệm Hơi Thở: “Cảm giác tâm hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác tâm hành tôi biết tôi thở ra”. Mỗi lần hít vô hay thở ra đều lắng nghe tâm đang có niệm hay không niệm và niệm ấy là niệm mang ý nghĩa gì. Đề mục này là để hướng dẫn ý thức nhận xét sự hoạt động của tâm theo từng hơi thở ra vô chứ không phải biết hơi thở ra vô bình thường; nếu thấy tâm lặng lẽ bất động không một niệm mang ý nghĩa nói gì xen vào trong suốt 30 phút hay 01 giờ là đã đạt được kết quả tu tập tâm lặng lẽ về đề mục này. Nhưng đề mục 6 này mục đích không phải cảm nhận sự lặng lẽ của tâm mà cảm nhận sự hoạt động của Tâm Hành, biết rõ có lúc tâm lặng lẽ nhưng có lúc tâm không lặng lẽ. Đề mục 6 này dạy rất rõ là nương theo hơi thở vô ra mà thấy tất cả sự hoạt động của tâm, tâm muốn gì hay tâm làm gì đều biết rất rõ không bỏ sót một hành động nào của tâm. Tâm ở trong sự hoạt động là tâm nương hơi thở để cảm nhận sự hoạt động đó, cho nên câu này nghĩa rất rõ “Cảm Nhận Tâm Hành Tôi Biết Tôi Thở Ra". Cảm nhận Tâm Hành tức là làm chủ tâm, điều khiển tâm làm cho tâm luôn luôn sống trong thiện pháp và không bao giờ để tâm tư duy suy nghĩ những điều ác được. Vì thế phải tu tập cho thật kĩ, cho cảm nhận được sự động và sự tịnh của tâm. Khi tâm được An Tịnh thì không còn tạp tưởng, dù có những tư tưởng mạnh như thế nào đi nữa cũng đẩy lui được hết.

Cách hành chữ quán (ĐườngVề.9) như câu “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”, câu này có ba nghĩa và có ba kết quả trong một hành động tu: 1- Nhắc nhở tôi quan sát xem xét tâm tôi có khởi lên tham muốn cái gì không? Nếu có thì tôi phải tỉnh thức quán xét tâm tham muốn đó “để xa lìa” như tôi đang tỉnh thức biết hơi thở vô ra vậy. 2- Nếu không có niệm khởi tâm tham muốn thì nó giúp tôi tỉnh thức trên tâm tôi, tôi biết rõ tâm tôi “không có tham muốn” tức là tôi biết rõ tâm tôi đang ở trong trạng thái “thanh thản, an lạc và vô sự” như tôi đang tỉnh thửc biết hơi thở ra vô rõ ràng vậy. 3- Nếu tâm tôi không có niệm khởi tham muốn thì câu pháp hướng trên sẽ thấm nhuần “lý ly tham”và sau này trở thành một “nội lực không tham muốn” nó sẽ giúp tôi đoạn diệt lòng tham muốn.

Cách phát lồ sám hối (OaiNghi) là xin phát lồ sám hối. Nếu thấy mình có lỗi thì nên phát lồ như sau: “Hôm nay là ngày ... Suốt nửa tháng tu học tại ..., con, tỳ kheo ..., có làm một lỗi là .... Vậy từ đây con xin sám hối, không dám vi phạm lỗi lầm đó nữa, xin Phật và đại chúng chứng minh cho con, để thân tâm con được thanh tịnh”. Nếu thấy mình không có lỗi thì nên phát lồ như sau: “Hôm nay là ngày.... Suốt nửa tháng tu học tại ..., con, tỳ kheo ..., không tự thấy mình có làm lỗi trong giới luật Phật. Vậy ngưỡng mong quý thầy có nhận thấy (pháp danh vị đang sám hối) có vô ý làm lỗi gì, xin quý thầy chỉ dạy để (pháp danh vị đang sám hối) phát lồ sám hối, nhờ đó từ đây về sau (pháp danh vị đang sám hối) không tái phạm những lỗi lầm đó nữa. (pháp danh vị đang sám hối) xin thành tâm tri ân quý thầy”. Sau khi người cuối cùng phát lồ xong thì tất cả mọi người đồng tụng bài ước nguyện: “Hôm nay ngày phát lồ, Chúng con nguyện thành tâm. Giữ gìn tròn giới luật, Không hề vi phạm phải, Dù một lỗi nhỏ nhặt, Cũng không hề vi phạm, Nhờ đó tâm ly dục, Nhờ đó ác pháp lìa, Nhờ đó tâm thanh tịnh, Chúng con cũng thành tâm, Ước nguyện cho mọi người, Phát lồ như chúng con, Ðể thân tâm bất động, Thanh thản và an lạc, Cùng nhau vào Niết Bàn”.Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật

Cách quán Tứ Niệm Xứ (ĐườngVề.9) tức tu Định Vô Lậu trên bốn chỗ thân thọ tâm pháp khiến cho thân tâm không còn phiền não đau khổ nữa. 1- Thấy thân yên lặng, thanh thản, an lạc và vô sự thì nên để thân tâm tự nhiên, đừng đả động đến nó. 2- Thấy tâm yên lặng, thanh thản, an lạc và vô sự thì nên để thân tâm tự nhiên, đừng đả động đến nó. 3- Thấy thọ yên lặng, thanh thản, an lạc và vô sự thì nên để thân tâm tự nhiên, đừng đả động đến nó. 4- Thấy pháp yên lặng, thanh thản, an lạc và vô sự thì nên để thân tâm tự nhiên, đừng đả động đến nó.

Khi tu tập quán Tứ Niệm Xứ nếu thấy thân tâm cảm nhận có chướng ngại pháp: 1- Trên thân thọ có pháp ác đến, nghĩa là có cảm giác như: đau, nhức, ngứa, mỏi mệt, tê, nóng, rát trên thân, v.v... thì nên quán xét mà đẩy lui nó ra khỏi thân. Đẩy lui bằng cách: Khi ngồi kiết già chân bị tê, đau nhức hay nóng muốn đẩy lui chướng ngại pháp đó thì hãy đứng dậy đi kinh hành, tức khắc đau tê nhức được đẩy lui, tức là trở về trạng thái thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự. 2- Trên tâm thọ có ác pháp đến, nghĩa là trong tâm có một niệm khởi, niệm khởi ấy đem đến một sự phiền não, một sự lo lắng, một sự buồn khổ, v.v... cho đến tâm có một niệm tào lao chẳng ích lợi gì tuy nó không làm cho tâm buồn khổ, phiền não, nhưng nó cũng làm cho tâm mất thanh thản, an lạc và vô sự, vì vậy cần phải đẩy lui tất cả để tâm trở về trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự thì mới đúng cách thức tu tập. 3- Trên Pháp thọ có ác pháp đến, có nghĩa là đang sống một mình và đang quan sát thân, thọ, tâm, và pháp thì có một người bạn đến nói chuyện, thì phải hiểu đó là ác pháp đến, khiến mất đi trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự, nếu thích nói chuyện với người bạn đó hoặc tùy thuận nói chuyện để khỏi mất lòng bạn bè, thì trong cuộc đời tu hành không mạnh dạn quyết tâm đẩy lui các chướng ngại pháp đó thì dù có tu ngàn đời muôn kiếp cũng chẳng bao giờ giải thoát được, vì đó là duyên để tâm phóng dật, mà tâm còn phóng dật thì chẳng bao giờ hết lậu hoặc, tâm không hết lậu hoặc thì làm sao tâm hết tham, sân, si được, tâm không hết tham, sân, si thì làm sao có thiền định được. 4- Thọ thân, thọ tâm, thọ pháp như thân thọ tâm pháp ở trên đã dạy đều có ác pháp đến xâm chiếm vào thân tâm thì nên quán xét đẩy lui để tâm luôn luôn sống trong thanh thản, an lạc và vô sự. Ở đây có nghĩa là tu tập đẩy lui như thế nào mà tâm tự nhiên không phóng dật. Tâm tự nhiên không phóng dật là đã đi hết hai phần ba đường của Ðạo giải thoát. Tóm lại, chỉ có hằng giây, hằng phút, hằng giờ, hằng ngày, hằng tháng, hằng năm, lúc nào, thời gian nào cũng đều phải quan sát trên bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp để đẩy lui các chướng ngại pháp trên đó, để bảo vệ chân lý. Khi nào các chướng ngại pháp không còn tác động đến bốn chỗ thân, thọ, tâm và pháp là đã thành tựu viên mãn sự tu hành, đã chứng đạt chân lý, có nghĩa là lúc nào cũng sống với tâm bất động mà không một chướng ngại nào tác động được. Ðến đây con đường tu tập đã hoàn thành.

Cách thức gom tâm (ĐườngVề.3) phải thường xuyên tu tập những cách sau đây: 1- Phải thường xuyên đi kinh hành, phải biết đi kinh hành đúng pháp môn, đúng cách đi kinh hành, làm mọi việc phải biết làm mọi việc, hoặc ngồi tại chỗ biết ngồi tại chỗ, trong lúc ấy thường hướng tâm nhắc: “Tâm phải gom về thân hành, thân làm cái gì thì tâm phải biết làm cái nấy, không được phóng dật ra ngoài, không được đi lang thang, không được nghe ngóng, phải gom về thân hành cho thật chặt”. Nên tu tập tỉnh thức bằng pháp hướng này thì kết quả gom tâm rất nhanh. 2- Nên theo phương pháp thở hơi thở chậm để gom tâm. Trước khi thở hơi thở chậm nên hướng tâm: “Tâm phải tập trung vào hơi thở tại nhân trung”, hướng tâm xong, hít vô chậm chậm cho đến khi không còn hít vô được thì bắt đầu thở ra và cũng thở ra chậm chậm cho đến khi hết thở ra được thì thở trở lại hơi thở bình thường mười hơi thở, sau khi mười hơi thở bình thường đã thở xong thì phải hướng tâm như trên lại một lần rồi lại thở một hơi thở chậm chậm và nhẹ, rồi thở trở lại mười hơi thở bình thường. Cứ như thế mà tu hết 30 phút thì xả nghỉ. (theo thứ tự: hướng tâm nhắc, một hơi thở chậm chậm và nhẹ, mười hơi thở bình thường,…). Nếu 10 hơi thở thấy sức gom tâm còn yếu thì nên tu 5 hơi thở bình thường và một hơi thở chậm, khi nào tâm gom được thì chỉ thở hơi thở bình thường mà không cần thở hơi thở chậm và nhẹ nữa.

Cách thức làm chủ bệnh (PhậtDạy.4)giữ tâm Chánh Niệm Tỉnh Giác chịu đựng cơn đau”. Trong pháp môn Tứ Chánh Cần gồm có Chánh Niệm Tỉnh Giác Ðịnh. Chánh Niệm Tỉnh Giác chỉ là để chịu đựng cơn đau ghê gớm, khốc liệt như dao cắt ruột, bứt gan; giữ gìn tâm Chánh Niệm Tỉnh Giác trên Thân Hành Niệm Nội (hơi thở) hay Thân Hành Ngoại (hành động tay chân). Nhờ có pháp môn này mà tâm mới bất động hoàn toàn, mới ly dục ly ác pháp được trọn vẹn. Chánh Niệm Tỉnh Giác là phương pháp vượt qua cơn đau, chứ không phải là phương pháp trị cơn đau. Khi thân bị bệnh đau bất cứ chỗ nào, nặng nhẹ, hãy cố gắng dựng thân ngồi kiết già sừng sững, đừng nên nằm, rồi nhiếp tâm thanh thản, an lạc và vô sự, khi tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì tâm định trên hơi thở ra hơi thở vào một cách nhẹ nhàng rõ ràng và cụ thể. Khi biết tâm đã định trên hơi thở như vậy thì tác ý nhắc: “Thọ là vô thường cái đau bệnh này phải đi khỏi nơi thân tâm ta” (Nhất là phải chỉ rõ bệnh gì? Bệnh ở đâu?). Khi tác ý xong câu này thì tiếp tục tác ý câu thứ hai: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Khi tác ý xong thì cứ bám cho chặt trong hơi thở vô, hơi thở ra, ý thức chỉ biết hơi thở vô ra đều đặn, đừng lưu ý đến bệnh đau, thỉnh thoảng lại tác ý: “Thọ là vô thường cái thân bệnh này hãy đi! Ði! Ði cho khỏi thân ta”. Đó là phần nhiếp phục cơn bệnh đau bằng pháp môn như lý tác ý và pháp môn Ðịnh Niệm Hơi Thở.

Cách thức tu tập tâm ly dục, ly ác pháp, diệt ngã, xả tâm (ĐườngVề.5) Suy tư nào ác làm khổ mình, khổ người thì phải chấm dứt ngay liền; suy tư nào thiện không làm khổ mình, khổ người thì cần phải phát triển những suy tư ấy, sống không phóng dật, nhiệt tâm siêng năng tỉnh giác từng hành động thân ý, từng sự việc, từng đối tượng, từng hoàn cảnh, v.v...

Cách thức tu tập Tứ Niệm Xứ (ĐườngVề.2) (TrợĐạo) 1- Trên thân quán thân. 2- Trên thọ quán thọ. 3- Trên tâm quán tâm. 4- Trên pháp quán pháp. Kinh dạy là trên thân quán thân tỉnh giác Chánh Niệm để khắc phục tham ưu ở đời... Chúng ta phải hiểu quán là quan sát, quán xét trên bốn chỗ thân, thọ tâm, pháp; bốn chỗ này đức Phật gọi là Tứ Niệm Xứ. Trên bốn chỗ này thường có Tà Niệm xảy ra (ác pháp) vì vậy mà phải quan sát quán xét cho kỹ để phát hiện ra những Tà kiến, Tà Niệm; phát hiện ra được những Tà Kiến và Tà Niệm thì chúng ta phải đẩy lui chúng ra khỏi tâm tư mà Ðức Phật gọi là khắc phục tham ưu. Công việc tu hành Tứ Niệm Xứ là chỉ có quan sát bốn vị trí này để diệt trừ các chướng ngại pháp, cho nên tâm thường ở trong Chánh Niệm tức là không có Tà Niệm, tức là không có niệm ác, không có niệm ác thì thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Chánh Niệm là khắc phục tham ưu có nghĩa là chiến đấu với nội tâm của mình khi thân, thọ, tâm, pháp có chướng ngại thì dùng Tứ Niệm Xứ để đẩy lui ác pháp. Như vậy, Chánh Niệm là tu học cách thức đoạn diệt các ác pháp bên trong tâm.

Cách thức yểm ly các sắc (TruyềnThống.1) con mắt nhìn thấy mọi vật, biết rõ mọi vật mà không sinh tâm tham đắm ham muốn... mọi vật. Do lục nhập này (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) ta không chấp nhận; ta không chấp nhận tức là yểm ly.

Cách thức yểm ly các thức (TruyềnThống.1) con mắt nhìn thấy mọi vật, biết rõ mọi vật mà không sinh tâm tham đắm ham muốn... mọi vật. Do lục nhập này (Nhãn thức do mắt sanh, Nhĩ thức do tai sanh, Tỷ thức do mũi sanh, Thiệt thức do lưỡi sanh, Thân thức do thân sanh, Pháp thức do ý sanh) ta không chấp nhận; ta không chấp nhận tức là yểm ly.

Cách thức yểm ly các xúc (TruyềnThống.1) con mắt nhìn thấy mọi vật, biết rõ mọi vật mà không sinh tâm tham đắm ham muốn mọi vật. Do lục nhập này (Nhãn xúc do mắt sanh, Nhĩ xúc do tai sanh, Tỷ xúc do mũi sanh, Thiệt xúc do lưỡi sanh, Thân xúc do thân sanh, Pháp xúc do ý sanh) ta không chấp nhận; ta không chấp nhận tức là yểm ly.

Cách thức yểm ly con mắt (TruyềnThống.1) con mắt nhìn thấy mọi vật, biết rõ mọi vật mà không sinh tâm tham đắm ham muốn... mọi vật. (tức không có bất cứ niệm nào về vật thấy)

Cách tu tập Thân thiện hành (CầnBiết.4) hằng ngày phải tu tập ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp, như vậy là tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần. Muốn tu tập Tứ Chánh Cần ra hành động thì phải tu tập Định Niệm Hơi Thở, Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, Định Sáng Suốt và Định Vô Lậu.

Cái biết của con người (ĐườngVề.6) có ba cái: 1- Cái biết của ý thức (cái biết do sự phân biệt của sáu thức hằng ngày). 2- Cái biết của tưởng thức (cái biết trong giấc mộng). 3- Cái biết của tâm thức (cái biết của thức uẩn, cái biết siêu không gian và thời gian, cái biết để thực hiện Tam Minh vô lậu của bậc A La Hán). Chữ tâm ở đoạn kinh “Tâm chủ, tâm tạo tác, Nếu nói hay hành động, Với tâm tư ô nhiễm, Khổ não sẽ theo ta, Như xe theo vật kéo”. Theo chúng tôi thì chữ tâm mà dịch giả dùng ở đây phải hiểu là “ý thức phân biệt hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta”. Nó chính là tri kiến của mỗi người đang sử dụng hằng ngày. Con đường tu tập của đạo Phật lấy ý thức phân biệt tấn công giặc tham, sân, si; giặc sinh tử luân hồi. Ðó là ý của bài kinh này vậy.

Cái biết của tâm thức (ĐườngVề.6) là cái biết của thức uẩn, cái biết siêu không gian và thời gian, cái biết để thực hiện Tam Minh vô lậu của bậc A La Hán.

Cái biết của tưởng thức (ĐườngVề.6) là cái biết trong giấc mộng.

Cái biết của ý thức (ĐườngVề.6) là cái biết hằng ngày do sự phân biệt của sáu thức.

Cái khó của người tu hành theo đạo Phật (PhậtDạy.4) là ở chỗ Tỉnh Giác Chánh Niệm buông xả sạch dục và ác pháp, không phải chỗ nhập Bốn Thánh Ðịnh, thực hiện Tam Minh chứng quả A La Hán. Khi Tỉnh Giác Chánh Niệm buông xả sạch dục và ác pháp là trạng thái tâm thanh thản, an lạc và vô sự là chứng quả A La Hán, chứ không phải còn tu tập pháp môn nào cả. Có người tu tập rất lâu mới chứng đạt được chỗ tâm Chánh Niệm Tỉnh Giác này.

Cái thấy, cái biết, cái nghe (TâmThư.1) không phải ta, không phải là của ta và không phải là bản ngã của ta. Cái THẤY là cái BIẾT của THẤY, mà cái biết của thấy là NHÃN THỨC, chứ không phải là PHẬT TÁNH. Cái BIẾT là cái BIẾT của THỨC, mà cái biết của thức là cái biết của Ý THỨC, chứ không phải là PHẬT TÁNH. Cái NGHE là cái BIẾT của NGHE mà cái biết của nghe là NHĨ THỨC, chứ không phải là PHẬT TÁNH.

Cái thức (hay Cái biết) (LinhHồn) Trong thân chúng ta có nhiều Cái biết: I- Cái biết thứ nhất: Hằng ngày chúng ta đang chung đụng và giao tiếp với mọi người bằng sáu cái thức (Cái biết) 1- Cái thức của mắt. 2- Cái thức của tai. 3- Cái thức của mũi. 4- Cái thức của miệng. 5- Cái thức của thân. 6- Cái thức của ý; II- Cái biết thứ hai: là cái biết trong giấc ngủ khi ngủ chiêm bao, cái biết ấy là của tưởng thức; III- Cái biết thứ ba: là cái biết của người tu theo Phật giáo chứng đạo gọi là Tam Minh. Ba cái biết này đang xử dụng các cảm thọ và các hành động trong thân tâm của chúng ta.

Chánh (TâmThư.1) là thiện pháp, là không còn tham, sân, si.

Chánh Biến Tri (PhậtDạy.1) (CầnBiết.3) nghĩa là chánh trí biết rõ mọi pháp như thật. Chánh biến tri còn có nghĩa là trí hiểu biết chân chánh không bị tà pháp, tà kiến, tưởng kiến, tà giáo lừa đảo, trí hiểu biết vượt ra khỏi sự hiểu biết trong khuôn khổ nề nếp phong tục, tập quán và các hệ tư tưởng của các tôn giáo trên thế gian này. Chánh Biến Tri còn gọi là “Thánh Hạnh Liễu Tri”.

Chánh dâm (10Lành) Người cư sĩ, đối với vấn đề sinh lý vợ chồng thì đó là chánh dâm. Chánh dâm là hành dâm với người vợ hay chồng của mình.

Chánh Ðịnh (PhậtDạy.1) (PhậtDạy.2) (ĐườngVề.2) (ĐườngVề.6) là Bốn Thiền tức là Tứ Thánh Ðịnh. Tứ Thánh Ðịnh, pháp môn thiền định của Phật giáo. Trong Tứ Thánh Ðịnh có bốn thiền như: 1/ Sơ Thiền, 2/ Nhị Thiền, 3/ Tam Thiền, 4/ Tứ Thiền, ngoài bốn thiền này không có thiền nào được gọi là Chánh Ðịnh. Chánh định có nội lực giúp cho chúng ta làm chủ thân tâm, tự tại trong sự sống chết. Người nào tu tập Tứ Thánh Ðịnh là đang ở bờ bên kia, bờ giải thoát. Tứ Thánh Ðịnh là pháp môn làm chủ sanh, già, bệnh, chết, nhưng muốn nhập được Tứ Thánh Ðịnh là phải có Tứ Như Ý Túc. Người có Tứ Như Ý Túc là người ở bờ bên kia, chứng quả A La Hán.

Chánh giải thoát (PhậtDạy.2) là tâm bất động trước các pháp ác và các cảm thọ, tâm thanh thản, an lạc và vô sự, tâm không phóng dật, tâm vô lậu; đó là ở bờ bên kia, bờ giải thoát, chứng quả A La hán.

Chánh hạnh (PhậtDạy.1) là những hành động đoan chánh ngay thẳng, thấy sai nói sai, thấy đúng nói đúng, không nịnh bợ, a dua hay thấy sai mà không dám nói sai, những hành động sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Chánh hạnh tức là tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

Chánh kiến (PhậtDạy.2) (ĐườngVề.2) (ĐườngVề.3) (CầnBiết.5) là thấy nghe, hay biết một cách ngay thẳng, công minh, chánh trực, rõ ràng, cụ thể, không chủ quan, không sống trong tưởng tri trừu tượng mê tín, không dựa bên này, không dựa bên kia, không bị tập quán thành kiến dục vọng chi phối, không tin theo truyền thuyết, không tin theo truyền thống, không tin theo lời đồn, không tin theo kinh tạng truyền tụng, không tin theo lý luận siêu hình, không tin theo một lập trường, không tin theo hời hợt những dự kiện, không tin theo định kiến của mình, không tin theo xuất phát nơi có uy quyền, không tin theo bậc Sa Môn là Ðạo Sư của mình. Chánh Kiến là thấy nghe hiểu biết mọi sự, mọi việc và mọi vật bằng pháp thiện, toàn là thiện pháp không làm khổ mình, khổ người. Chánh kiến là một sự hiểu biết mà không có khổ đau, không có sự dối trá, gian xảo, không có sự lừa đảo, lường gạt, không có sự phi đạo đức, sự hiểu biết mà không có ảo tưởng, trừu tượng, không có tưởng tri. Chánh kiến là khi nào tâm ly dục ly ác pháp, thấy thân, thọ, tâm, pháp, vô thường, khổ, không, vô ngã như thật; khi nhìn thấy hình sắc xấu, tốt cũng như khi nghe âm thinh thuận tai, chướng tai; khi cảm giác êm ấm, thoái mái dễ chịu, khi ngửi một mùi thơm hay thối đều không có chướng ngại thân tâm; khi lục căn tiếp xúc lục trần không dính mắc. Chánh kiến thấy thân, thọ, tâm, pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã; thấy 12 nhân duyên hợp là thế giới khổ; thấy 12 nhân duyên rã là hết khổ; thấy thân ngũ uẩn không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta. Thấy biết đúng như vậy gọi là Chánh kiến. Chánh kiến ở đây là giải nghĩa Chánh kiến, chứ không phải Chánh kiến trong Bát Chánh Ðạo.

Tuy dựa theo các kinh để hiểu biết, nhưng không phải như vậy là “Chánh kiến” được, vì vẫn còn chấp ngã, tham, sân, si vẫn đầy, chỉ khi nào tâm ly dục ly ác pháp thì mới thấy thân, thọ, tâm, pháp, vô thường, khổ, không, vô ngã như thật (Chánh kiến trong Bát Chánh Ðạo). Khi nhìn thấy hình sắc xấu, tốt cũng như khi nghe âm thinh thuận tai, chướng tai, khi cảm giác êm ấm, thoái mái dễ chịu, khi ngửi một mùi thơm hay thối đều không có chướng ngại thân tâm thì đó là Chánh kiến; khi lục căn tiếp xúc lục trần không dính mắc là Chánh kiến, tức là một sự hiểu biết mà không có khổ đau (tâm ly dục ly ác pháp), đó là Chánh kiến. Một sự hiểu biết mà không có sự dối trá, gian xảo, không có sự lừa đảo, lường gạt, không có sự phi đạo đức (tâm ly dục ly ác pháp) thì đó là Chánh kiến. Một sự hiểu biết mà không có ảo tưởng, trừu tượng, không có tưởng tri (tâm ly dục ly ác pháp) thì đó là Chánh kiến. Chánh kiến nơi đâu thì nơi đó có đời sống giới luật (tâm ly dục ly ác pháp), nơi đâu có đời sống giới luật (tâm ly dục ly ác pháp) thì nơi đó có Chánh kiến. Nơi đâu có Chánh kiến (tâm ly dục ly ác pháp) thì nơi đó có tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự. Và vì vậy, nơi đó có sự giải thoát của đạo Phật. Chánh kiến là thấy nhân, thấy quả; do thấy nhân quả như thật nên ở bờ bên kia không còn khổ đau. “Chớ nhìn mọi việc đúng sai phải trái mà hãy nhìn nó là thiện ác thì cuộc đời các bạn sẽ được an vui và hạnh phúc ngay liền”.

Chánh Mạng (PhậtDạy.2) (ĐườngVề.1) (ĐườngVề.2) Chánh mạng là ăn uống không phi thời, ăn uống có tiết độ, ăn để sống chứ không phải ăn cho ngon, ăn cho bổ mập, ăn những cao lương mỹ vị. Chánh Mạng là mạng sống chân chánh của con người, là sự sống của cơ thể không huân tập vào thân những sự khổ đau của kẻ khác và của tất cả chúng sanh. Chánh Mạng là nuôi sống thân mạng bằng những nghề nghiệp chân chánh tức là những nghề nghiệp lương thiện không tạo việc làm ác để nuôi thân mạng. Chánh Mạng là nuôi mạng sống của mình không có sự đau khổ của chúng sanh, không bao giờ ăn thịt chúng sanh. Chánh Mạng còn có nghĩa là sống đúng chánh pháp, không mê tín dị đoan, không sống trong tưởng giải, ảo giác, mơ hồ, trừu tượng. Chánh Mạng còn có nghĩa là sống không chạy theo dục vọng và các ác pháp về ăn uống. Chánh mạng là nuôi mạng sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Chánh mạng là ở bờ bên kia, bờ giải thoát, bờ vô lậu.

Chánh mạng là nói về những sự nuôi dưỡng thân mạng chân chánh. Nuôi dưỡng thân mạng chân chánh có ý nghĩa tu sửa không ăn uống lặt vặt phi thời, ăn uống không đúng giờ đúng lúc, ăn uống không có tiết độ, ăn uống vì thèm khát mà không phải vì sự sống để tu tập. Ăn uống không vì lợi dưỡng, không ăn thịt chúng sanh, không ăn uống những chất độc hại gây tạo cho cơ thể bệnh tật khổ sở, dù những thực phẩm đó có ngon ngọt béo bổ đến đâu cũng nên tránh xa, đó là nuôi chánh mạng. Chánh Nghiệp tốt thì Chánh Mạng mới tốt theo. Chánh Nghiệp thanh tịnh thì Chánh Mạng mới thanh tịnh. Ăn uống không có sự gian ác và đau khổ trong những thực phẩm, tức là nói về những sự nuôi dưỡng thân mạng chân chánh. Chánh Mạng là nuôi thân mạng chân chánh có nghĩa tu sửa không ăn uống lặt vặt phi thời, không đúng giờ đúng lúc, ăn uống phải có tiết độ, không phải vì thèm khát, ăn uống là vì sự sống để tu tập, không vì lợi dưỡng, không ăn thịt chúng sanh, không ăn uống những chất độc hại, gây tạo cho cơ thể bệnh tật khổ sở. Thân mạng được nuôi sống chân chánh có những ích lợi: 1- Thân không trả nghiệp quả khổ đau. 2- Thân không bệnh tật khổ đau. 3- Tuổi thọ được lâu dài. 4- Thân được mạnh khỏe tu tập dễ dàng hơn. 5- Thân được mạnh khỏe tâm hồn được an vui, thanh thản và vô sự.

Chánh Nghiệp (PhậtDạy.2) (ĐườngVề.1) (ĐườngVề.2) là hành nghề đúng, những hành động không làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai. Nghề nghiệp chân chánh mới nuôi được chánh mạng của mình và của mọi người trong gia đình. Chánh Nghiệp làm bằng sức lao động chân tay hoặc bằng trí óc tạo ra những thực phẩm lương thiện để nuôi thân mạng không có sự gian ác và đau khổ trong đó. Tức là nói về những hành động thân, miệng và ý phải chân chánh, do ba nơi này tu tập không làm hành động ác. Về thân có ba hành động Chánh Nghiệp như: 1/ Thân không đánh đập, không làm đau khổ và không tự giết hại mình, người và tất cả chúng sanh. 2/ Thân không trộm, cắp, cướp giựt , không móc túi, không lấy của không cho. 3/ Thân không tà dâm, không làm những điều bất chánh gây đau khổ cho mình cho người. Về miệng không nên ăn thịt chúng sanh. Chánh Nghiệp là những nghề nghiệp sống chân chánh, nghề nghiệp không làm đau khổ cho mình, cho người và không làm đau khổ chúng sanh. Thay đổi nghề nghiệp ác là hành động đầu tiên trau dồi thân tâm thiện (Chánh Nghiệp). Chánh Nghiệp thanh tịnh thì Chánh Mạng mới thanh tịnh, do đó, đời sống mới được an vui, hạnh phúc. Chánh nghiệp là những hành động mở cửa Thiên Ðàng, ai từng có những hành động này là ở bờ giải thoát, là bờ vô lậu, là chứng quả A La Hán.

Chánh Ngữ (PhậtDạy.2) (ĐườngVề.2) là lời nói chân thật, ngay thẳng, không bao giờ nói sai sự thật, lời nói không thiên vị, không xuyên tạc, không nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, không nói đùa, nói chơi, nói giỡn cợt, nói móc họng, nói mỉa mai, nói to tiếng, nói tranh luận hơn thua, nói xỉ vả, chửi mắng, nạt nộ, la hét, hù dọa, không nói lời làm cho người khác tức giận, không nói lời làm cho người khác buồn phiền khổ đau, không nói xấu người khác, không đặt điều thêm bớt, không đem chuyện người này nói lại với người kia... Chánh Ngữ là những lời nói luôn luôn lúc nào cũng ôn tồn, nhã nhặn, dịu dàng, nhẹ nhàng, từ tốn, khiêm cung, những lời nói hiền lành, lời nói không làm khổ mình, khổ người, và khổ tất cả chúng sanh. Lời nói không làm khổ mình, khổ người là lời nói thiện. Lời nói thiện có bốn: 1- Không nói lời hung dữ, 2- Không nói lời đâm thọc, 3- Không nói lời lật lọng, 4- Không nói lời không thật. Lời nói không làm khổ mình, khổ người là lời nói thiện, lời nói ấy là chánh ngữ, nếu ai đã từng nói những lời nói này là người ở bờ giải thoát, như vậy chứng quả A La Hán đâu phải khó.

Chánh Niệm (PhậtDạy.1) (PhậtDạy.2) (Phậtdạy.3) (PhậtDạy.4) (ĐườngVề.2) (ĐườngVề.6) (Đường Về.7) (CầnBiết.4). Chữ “niệm” là “nhìn thấy, hiểu biết một cách tường tận, đúng như thật nhân quả, đúng như Thập nhị nhân duyên”. Chánh Niệm là niệm chân chánh, niệm thiện, niệm không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh, tức là sự hiểu biết rõ niệm thiện niệm ác. Biết rõ niệm thiện, niệm ác đó là do trí thức đã thấu suốt niệm thiện ác, nên thường ở trong chánh niệm. Trí thức tỉnh táo sáng suốt chính là chánh niệm. Chánh niệm còn có nghĩa là thân tâm không bị các pháp ác và các cảm thọ gây chướng ngại hay nói cách khác chánh niệm là chỉ cho thân tâm thường thanh thản, an lạc và vô sự; nói theo kiểu đạo đức chánh niệm là đạo đức không làm khổ mình, khổ người; nói theo kiểu tỉnh thức chánh niệm thì chánh niệm có nghĩa là ly tham, ly sân, ly si, ly mạn, ly nghi; là niệm vô lậu.

Chánh niệm gồm có 3: 1- Thân hành niệm nội là hơi thở. 2- Thân hành niệm ngoại là sự họat động của thân như: Đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, đưa tay, duỗi chân, cúi đầu, liếc mắt, ngó nhìn làm tất cả mọi công việc, v.v... 3- Thân tâm ở trạng thái bất động tâm có nghĩa là tất cả các ác pháp không tác động vào thân được tức là tâm ở trong trạng thái “Vô Tướng Tâm Định” hay nói cách khác là tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Tâm lúc bấy giờ hoàn toàn không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Tâm không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu mới được gọi là tâm bất động; mới được gọi là tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Tất cả những niệm kể trên là niệm vô lậu. Niệm vô lậu chính là Chánh niệm. Trong kinh sách Nguyên thủy còn bảo Chánh Niệm là Tứ Niệm Xứ. Khi Chánh Niệm thanh thản, an lạc và vô sự hiện tiền trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì tà niệm không bao giờ xen vào được. Nếu tà niệm xen vào thì phải tức khắc nhiếp phục không được để chúng tác động vào thân, thọ, tâm và pháp. Ðức Phật đã xác định Chánh Niệm là Tứ Niệm Xứ, cho nên người tu Chánh Niệm tức là tu tập Tứ Niệm Xứ. Người nào tu pháp môn Tứ Niệm Xứ này chỉ trong vòng 7 ngày, 7 tháng, 7 năm là viên mãn, sẽ có giải thoát ngay liền, không còn đau khổ, họ ở bờ bên kia, bờ không còn lậu hoặc. Như vậy, họ chứng quả A La Hán. Chánh Niệm là tên của lớp học, còn Tứ Niệm Xứ là môn học cho lớp học đó, chứ không phải Chánh Niệm là những môn học như Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ thuộc Ðịnh Vô Lậu.

Muốn tu tập Ðịnh Vô Lậu thì phải dùng ý thức, pháp tác ý và pháp như lý tác ý. Tập sống trong Chánh Niệm tức là tu tập Tứ Niệm Xứ thì hằng ngày phải quan sát trên bốn chỗ: thân, thọ, tâm và pháp, nếu thấy có Tà niệm thì phải tu tập như sau: “Trên thân quán sát thân để khắc phục tham ưu; trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu ở đời; trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu; trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu”. Muốn đạt được Chánh Niệm thì phải có sự tỉnh thức. Muốn tu tập tỉnh thức, đức Phật dạy: “Tỳ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui; tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay; tỉnh giác khi mang áo sanghati (tăng già lê), mang bát, mang y; tỉnh giác khi ăn uống, khi nhai, khi nếm; tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi, đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng, đều tỉnh giác. Này các Tỳ Kheo, như vậy Tỳ Kheo sống tỉnh giác”. Ðoạn kinh nói như vậy, khiến các bạn sẽ hiểu sai lệch biến pháp xả tâm thành pháp ức chế tâm chỉ lo chú ý tập trung trên thân hành một cách ức chế tâm cho hết niệm khởi, đó là một điều tu sai lệch pháp hết sức. An trú Chánh Niệm Tỉnh Giác trong nhiều góc độ của pháp môn Tứ Niệm Xứ để đạt được sự làm chủ sự sống chết hoàn toàn chỉ trong một đời này mà thôi. Người đời sau đã biến Tứ Niệm Xứ thành một loạt thiền ức chế tâm chứ không còn là Chánh Niệm trong Bát Chánh Ðạo.

Chánh niệm không tham trước (PhậtDạy.1) có nghĩa là tu tập Tứ Niệm Xứ nên tâm đã khắc phục được những tham ưu trên thân, thọ, tâm, và pháp. Nhờ đó tâm không còn phóng dật.

Chánh Niệm Tỉnh Giác (PhậtDạy.4) (TrợĐạo) (Tạoduyên) (ĐườngVề.10) (CầnBiết.5) Chánh Niệm Tỉnh Giác là tên một pháp môn trong 4 pháp môn của Tứ Chánh Cần mà đức Phật dạy cho chúng ta đầu tiên khi mới bước chân vào đạo tu tập, (Tứ Chánh Cần gồm có: 1- Chánh Niệm Tỉnh Giác Định 2 - Định Vô Lậu 3 - Định Sáng Suốt 4 - Định Niệm Hơi Thở). Chánh Niệm Tỉnh Giác là một pháp môn đối trị bệnh gần chết của thân tứ đại nhưng chỉ là để chịu đựng cơn đau cũng giống như người ôm phao vượt biển. Khi có những cơn đau mãnh liệt như dao cắt ruột, xé gan thì chỉ còn có cách giữ gìn tâm Chánh Niệm Tỉnh Giác trên Thân Hành Niệm Nội (hơi thở) hay Thân Hành Ngoại (hành động tay chân) để chịu đựng được những cơn đau ấy. Nhưng chỉ là để chịu đựng cơn đau đó mà thôi. Đối với đạo Phật, đây là phương pháp đầu tiên để chiến thắng giặc sanh tử, giặc bệnh tật và giặc luân hồi. Phải rèn luyện tu tập cho thuần thục, nhu nhuyến những pháp môn này mới chiến thắng những cơn đau, đối trị những ác pháp đang tấn công ào ạt vào thân tâm; nhờ có những pháp môn này mà tâm ta mới bất động hoàn toàn, mới ly dục ly ác pháp được trọn vẹn.

Chánh Niệm Tỉnh Giác có bốn giai đoạn tu tập: 1- Giai đoạn thứ nhất: Ði kinh hành bình thường, chỉ đi 10 bước đứng lại tác ý một lần: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành”, tác ý xong câu này rồi tiếp tục đi. Ði và đứng lại tác ý như vậy đúng 30’ mới xả nghỉ. 2- Giai đoạn thứ hai: Ði kinh hành bình thường, chỉ 10 bước đứng lại tác ý: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Sau khi tác ý xong rồi thở ra hít vô, đếm đúng 5 hơi thở, ngưng lại, rồi tác ý: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành” trước khi đi. Khi đi xong 10 bước đứng lại tác ý và thở như trên. Tu tập như vậy đúng 30’ rồi xả nghỉ. 3- Giai đoạn thứ ba: Ði kinh hành bình thường, chỉ 10 bước, ngồi xuống kiết già hay bán già lưng thẳng, mắt nhìn chóp mũi rồi tác ý: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Sau khi tác ý xong rồi thở ra, hít vô đúng 5 hơi thở, ngưng lại đứng dậy, tác ý: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành” trước khi đi. Khi đi xong 10 bước đứng lại rồi ngồi xuống tác ý và thở như trên. Tu tập như vậy đúng 30’ rồi xả nghỉ. 4- Giai đoạn thứ tư: Ði kinh hành theo pháp Thân Hành Niệm, pháp này phải được trực tiếp với người có kinh nghiệm dạy, chứ đừng tự mình tu tập vì dễ bị sai lệch rất nguy hiểm. Pháp này mỗi hành động trong thân đều phải tác ý trước rồi mới hành động sau, có nghĩa là lệnh đâu thì hành động phải theo lệnh đó mà thi hành. Ðó là những phương pháp vượt qua cơn đau, chứ không phải là phương pháp trị cơn đau. Ðối với những loại giặc cảm thọ mãnh liệt này, nếu không chịu rèn luyện tu tập cho thuần thục, nhu nhuyễn pháp môn Chánh Niệm Tỉnh Giác thì rất khó chiến thắng chúng. Nhờ có pháp môn này mà tâm mới bất động hoàn toàn, mới ly dục ly ác pháp được trọn vẹn.

Chánh Niệm trong Bát Chánh Ðạo là lớp thứ bảy. Chánh Niệm có nghĩa là niệm thiện, niệm thiện là niệm không khổ, là niệm không có tham ưu, không có phiền não. Hành động của thân, miệng, ý luôn luôn mang theo tính chất thiện hay ác, chứ không có hành động suông được, vì thế, tỉnh thức ở chỗ thiện, ác, chứ không phải tỉnh thức ở hành động suông; tỉnh thức ở hành động suông thì còn có nghĩa lý gì cho con đường tu tập giải thoát của đạo Phật. Cho nên lúc nói, lúc viết, lúc tư duy quan sát mọi việc làm thì ta phải tỉnh giác để lời nói thiện, viết điều thiện, tư duy quán xét việc làm thiện thì đó là ta đã chánh niệm tỉnh giác, chứ không phải chánh niệm tỉnh giác ở chỗ đang nói, đang viết, đang làm mọi việc. Có siêng năng tu tập chánh niệm tỉnh giác trong khi nói, trong khi viết và trong mọi việc làm thì ta ngăn ác diệt ác trong khi nói, trong khi viết và trong làm khi mọi việc đều dễ dàng, do đó tâm hồn ta được giải thoát hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây.

Chánh Niệm Tỉnh Giác Ðịnh (ĐườngVề.1) (ĐườngVề.5) Chánh Niệm Tỉnh Giác Ðịnh là pháp môn tu tập “dừng cái ý”. Tâm lìa hết tham, sân, si thì ý thức dừng. Cách tu tập định này, trên thân quán thân tu về hành tướng ngoại (Tứ Niệm Xứ) nghĩa là thân đi biết thân đi, thân đứng biết thân đứng, thân ngồi biết thân ngồi, thân mặc y mang bát biết thân mặc y, mang bát, thân làm việc gì đều biết thân làm việc nấy. Tâm luôn chú ý theo dõi hành động của thân đang hoạt động, không để mất niệm đang làm. Mất niệm đang làm là thất niệm, thất niệm là mất tỉnh giác, mất tỉnh giác tức là mê, mê còn gọi là quên. Cho nên, tu tập mà để thất niệm là tu sai, tu như vậy không có kết quả, tu suốt đời cũng chẳng có ích lợi gì. Thất niệm có hai trạng thái khác xen vào: 1- Quên mất niệm hành động của thân, xen vào những vọng tưởng, nghĩ ngợi chuyện thế gian (bị vọng niệm). 2- Quên mất niệm hành động của thân (vô ký) hành động theo thói quen, không nhớ, hay quên. Quên mất niệm là quên pháp như lý tác ý, quên pháp như lý tác ý là ý thức chìm thì tưởng thức hoạt động, tưởng thức họat động thì sẽ rơi vào Thiền tưởng.

Người mới tu Ðịnh Chánh Niệm Tỉnh Giác phải dùng pháp tác ý hướng dẫn tâm tỉnh thức, nếu không dùng pháp tác ý thì tâm dễ bị vọng tưởng và vô ký. Cái khó là ở chỗ tu tập nếu không có người có kinh nghiệm hướng dẫn thì khó mà tu tập tỉnh thức an trú thời gian dài được. Định Chánh Niệm Tỉnh Giác và Ðịnh Vô Lậu sẽ hỗ trợ cho nhau, khi chúng ta biết kết hợp chúng, chúng sẽ giúp chúng ta diệt ngã xả tâm ly dục ly ác pháp, nhờ thế tâm bất động trước các đối tượng. Nếu người siêng năng tu tập như vậy, tâm được thanh tịnh hoàn toàn, tâm sẽ không còn phiền não, khổ đau, giận hờn, thương ghét nữa. Nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, không biếng trễ, không bỏ qua một giây phút nào, thì kết quả sẽ nhanh chóng, giải thoát chỉ cần một đêm tu tập sẽ trở thành bậc Thánh Hiền. Người cư sĩ tại gia cũng như người tu sĩ xuất gia đều dễ dàng tu tập hai pháp môn Thiền định này mà không sợ lạc Thiền, tẩu hỏa nhập ma hoặc rối loạn thần kinh, hoặc ông lên bà xuống như nhập đồng, nhập xác.

Chánh niệm trên thân, thọ, tâm và pháp (ĐườngVề.4) là niệm “thanh thản, an lạc và vô sự"

Chánh niệm trước mặt (PhậtDạy.1) (CầnBiết.3) Chánh niệm trước mặt không phải là niệm hơi thở vô, hơi thở ra mà là niệm từ bỏ, thoát ly, gọt rửa hết năm triền cái (dẹp sạch và đoạn dứt năm triền cái bằng pháp tác ý) như tâm dục tham, tâm sân hận, tu tập quét sạch hôn trầm thùy miên, tâm trạo cử hối quá, tâm nghi ngờ. Đây là phương pháp tu tập để dẹp sạch và đoạn dứt năm triền cái: 1.- Từ bỏ tâm dục tham ở đời, sống thoát ly dục tham, gọt rửa tâm hết dục tham, là ba pháp được đặt trước mặt để quán xét, từ bỏ, thoát ly và gọt rửa tâm dục tham, không phải niệm hơi thở vô, hơi thở ra. 2.- Từ bỏ tâm sân hận, sống với tâm không sân hận, gọt rửa tâm hết sân hận, khởi lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh loài hữu tình. 3.- Từ bỏ hôn trầm thùy miên trước mặt mà tác ý tu tập thì sẽ không còn thùy miên và hôn trầm nữa. 4.- Từ bỏ trạo cử, hối quá, nội tâm trầm lặng, gọt rửa tâm hết trạo cử, hối quá. 5.- Từ bỏ nghi ngờ, sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân, lưỡng lự, gọt rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp. Hãy nên theo thứ lớp tuần tự các pháp trên đây mà tu tập cho kỹ lưỡng.

Chánh pháp (PhậtDạy.4) (CầnBiết.5) (dùng Chánh pháp làm ngọn đèn) ở đây là Tứ Niệm Xứ: “vị Tỳ kheo đối với thân quán thân, tinh tấn tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ…; đối với tâm…; đối với các pháp, quán pháp tinh tấn tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời.” Chánh pháp của đức Phật là Bát Chánh Ðạo, ngoài Bát Chánh Ðạo ra thì không có pháp môn nào được gọi là giáo pháp của đức Phật. Bởi vì Bát Chánh Ðạo là một chân lý trong bốn chân lý của Phật giáo, mà đức Phật khi còn sống Ngài đã xác định rõ ràng để không còn lầm lạc với tà pháp mà các nhà Đại Thừa khéo lồng vào giáo pháp của đức Phật.

Chánh pháp còn phải bỏ huống là phi pháp (ĐườngVề.10.) Câu nói này đúng với người tu chứng, còn người tu chưa chứng mà dùng câu nói này là người phi pháp. Chánh pháp là đối tượng của phi pháp, nếu phi pháp không còn thì chánh pháp dùng vào đâu? Dù muốn để chánh pháp cũng phải bỏ. Nếu phi pháp có thì chánh pháp là đối thủ của nó, còn phi pháp không thì chánh pháp là sự sống của con người, chứ cần gì phải bỏ, phải lấy.

Chánh pháp là ngọn đèn, Chánh pháp làm chỗ nương tựa vững chắc cho mình (CầnBiết.5) là tu tập Tứ Niệm Xứ, phải thường xuyên quan sát thân, thọ, tâm và các pháp, phải luôn luôn lúc nào cũng tỉnh giác chánh niệm khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm đều luôn hộ trì và bảo vệ thân, tâm không cho một chướng ngại pháp nào tác động vào thân tâm.

Chánh Tín (Đường Về.7) (ChùaAm) Chánh tín chỉ cho mọi người biết thực hành đời sống có đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ mình, khổ người và chúng sinh, luôn luôn giữ gìn tâm Bất động, thanh thản, an lạc và vô sự bằng pháp môn Như ly tác ý để tâm luôn luôn ly dục ly bất thiện pháp, nhờ đó mới thấy được tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Chính thấy được tâm thanh thản, an lạc và vô sự như vậy mới là giải thoát của Phật giáo. Chánh tín là khi làm việc gì, thì phải hiểu rõ, biết rõ việc mình đang làm, không bị ảnh hưởng phong tục, tập quán, không bị tôn giáo lừa đảo, đầy đủ ý nghĩa đạo đức làm người thì việc ấy là “Chánh Tín”. Thí dụ hằng năm nhớ lại ngày mất cha, mất mẹ, mất những người thân; hoặc những ngày tư, ngày Tết cả gia đình cười đùa, vui chơi, thì họ lại nhớ đến công ơn của những người quá cố, nên đến nơi an nghỉ cuối cùng của những người thân thương này, tức là thăm mồ mả. Khi thấy mồ mả của những người thân, con cháu tưởng chừng những người khuất mặt đang ở đâu đây, nên mới mời những người đó về vui chơi Tết với con cháu. Ðó là lòng tưởng nhớ của những người còn sống, chứ người chết rồi, còn những gì mà về ăn Tết vui chơi với con cháu.

Chánh Tinh Tấn (PhậtDạy.2) (ĐườngVề.2) là sự siêng năng đúng với chánh pháp, là “Tứ Chánh Cần: Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”. Có những sự siêng năng mà không đúng chánh pháp như những tu sĩ và cư sĩ siêng năng “niệm Phật, trì chú, tụng kinh, bái sám, ngồi thiền, v.v...”, đó không phải là Chánh Tinh Tấn, mà chính là Tà Tinh Tấn. Chánh Tinh Tấn là phương pháp đầu tiên để tu tập thiền định, nghĩa là hằng ngày đi, đứng, nằm, ngồi, nói nín đều ngăn ác diệt ác pháp và luôn luôn sống trong thiện pháp, để giúp cho thân tâm ly dục ly ác pháp, thân tâm ly dục ly ác pháp, thì thân tâm mới thanh tịnh, thân tâm có thanh tịnh thì mới bắt đầu có định, chính từ tâm thanh tịnh này chúng ta mới chính thức đi vào thiền định. Nếu thân tâm chưa thanh tịnh mà vội vàng tu thiền định tức là tu sai, tu không đúng như trong Bát Chánh Ðạo đã dạy. Người nào luôn luôn sống Chánh tinh tấn như vậy là người mở cửa Thiên Ðàng, là người ở bờ bên kia, bờ giải thoát, bờ không còn khổ đau, chứng quả A la Hán không có khó khăn, không có mệt nhọc.


Các bài cùng chủ đề liền trước:
•  NGHĨA CÁC TỪ PHẬT HỌC CHƠN NHƯ - Tỳ khưu Từ Quang. Bà la môn... Buồn chán; Buổi lễ thỉnh nguyện phát lồ sám hối. (17.04.2014)
•  NGHĨA CÁC TỪ PHẬT HỌC CHƠN NHƯ - Tỳ khưu Từ Quang – Ác pháp… Bà la môn (04.04.2014)
<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC HAY. Thầy Thích Bảo Nguyên. (20.11.2017)  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)