DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 5  
  Số lượt truy cập: 26938  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO  
Cập nhật ngày : 09.04.2014 (Đã đọc : 6852 lần )

23- THẤY TA LÀ THẤY PHÁP, THẤY PHÁP LÀ THẤY TA

Người tu tập chứng đạo đều luôn luôn nhận thấy Tâm Bất Động của mình. Vì thế Đức Phật là người đã tu tập chứng đạo nên Ngài luôn luôn ở trong trạng thái Tâm Bất Động. Tâm Bất Động là một trạng thái chung của những người chứng đạo. Vì thế Đức Phật mới tuyên bố:

“Ai thấy Ta là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Ta.”

Trong cuộc đời này không có vật gì để chúng ta đáng thấy. Bởi các pháp đều vô thường, không có pháp nào là ta, là của ta, là bản ngã của ta. Cái thân bất tịnh hôi hám này, nếu trong một tuần lễ không tắm rửa thì đến gần có ai chịu nổi đâu. Bởi vậy Đức Phật mới dạy Vakkali:

“Này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám nầy. Này Vakkali, ai thấy Pháp người ấy thấy Ta, ai thấy Ta người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, ai đang thấy Pháp là đang thấy Ta, đang thấy Ta là đang thấy Pháp.”

Khi dạy cho chúng sinh thấy tâm Bất Động là thấy Phật, nhưng chúng sinh không thấy tâm Bất Động mà thấy Thân Ngũ Uẩn của mình và cho Thân Ngũ Uẩn của mình là thật có. Cho nên Đức Phật muốn phá cái tâm chấp Thân Ngũ Uẩn là ngã của mình bằng cách hỏi Vakkali:

              “Này Vakkali, ông nghĩ thế nào, Sắc là thường hay vô thường?
              - Là vô thường, bạch Thế Tôn.
              - Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
              - Là khổ, bạch Thế Tôn.
              - Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi?”
              - Thưa không, bạch Thế Tôn.
              -Thọ, Tưởng, các Hành, Thức là thường hay vô thường?
              - Là vô thường, bạch Thế Tôn.
              - Cái gì vô thường là lạc hay khổ?
              - Là khổ, bạch Thế Tôn
              - Cái gì vô thường chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là tôi, cái này là của tôi, cái này là tự ngã của tôi?”
              - Thưa không, bạch Thế Tôn.
              - Do vậy, ở đây thấy như vậy không còn trở lui trạng thái này nữa. Vị ấy biết rõ như vậy.” (219 Tương Ưng tập III)

Đức Phật vì loài người mà chỉ dạy tận tình để mọi người dễ nhận thấy sự thật của thân ngũ uẩn là một khối bất tịnh vô thường, hôi thối, đầy đau khổ, thế mà mọi người trên thế gian này lầm cho nó là ta, là của ta, là bản ngã của ta. Do lầm chấp này mà con người phải chịu trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi và khổ đau vô cùng tận.

Muốn thoát khổ đau này thì hằng ngày chúng ta phải siêng năng dẫn tâm vào chỗ Bất Động như Đức Phật đã dạy: “Thấy Ta là thấy Pháp, thấy Pháp là thấy Ta.”

            Đúng vậy, quý vị hãy cố gắng tu tập kỹ một chút và bền chí thì có ngày phải thành công tâm Bất Động.

24- SỐNG MỘT MÌNH

Người ta thường sống một mình ít ai chịu nổi vì quá buồn bã cô đơn, nhưng tại sao như vậy thì ít ai hiểu nguyên nhân nào. Chúng ta hãy nghe Đức Phật dạy: “Bị bảy kiết sử và năm triền cái là không sống một mình được.” (168 Tương Ưng tập 4). Đúng vậy, con người thường sống một mình không chịu nổi cô đơn buồn bã là do ngũ triền cái và bảy kiết sử.

Năm Triền Cái gồm có: 1- Tham triền cái; 2- Sân triền cái; 3- Si triền cái; 4- Mạn triền cái; 5- Nghi triền cái.

Bảy Kiết Sử gồm có: 1- Ái kiết sử; 2- Sân kiết sử; 3- Kiến kiết sử; 4- Nghi kiết sử; 5- Mạn kiết sử; 6- Hữu tham kiết sử; 7- Vô minh kiết sử.

Chính con người luôn luôn chịu nhiều khổ đau là do Ngũ Triền Cái và Thất Kiết Sử. Muốn giải thoát như Phật và những bậc A-la-hán thì đoạn trừ tận gốc ngũ triền cái và thất kiết sử. Khi đoạn trừ tận gốc ngũ triền cái và thất kiết sử thì chúng ta chứng đạo. Nhưng muốn đoạn trừ nó phải bằng phương pháp gì? Bằng Pháp Trí và Tùy Trí.

Pháp Trí là sự hiểu biết thông suốt chánh Phật pháp bằng trí tuệ, còn Tùy Trí là pháp tu tập Dẫn Tâm Vào Đạo (xin quý vị nghiên cứu lại tập sách Những Lời Tâm Huyết thì sẽ rõ pháp dẫn tâm), nhờ có tu tập dẫn tâm như vậy thì Ngũ Triền Cái và Thất Kiết Sử sẽ bị đoạn trừ tận gốc. Trên bước đường tu tập cần phải có sự kiên gan bền chí, nếu thiếu sự kiên gan bền chí thì tu hành chẳng bao giờ có sự giải thoát, quý vị nên nhớ! 

25- ĂN UỐNG THEO PHẬT GIÁO

Đối với đạo Phật vấn đề ăn uống rất là quan trọng, cho nên ăn uống cần phải tiết độ đúng cách ăn uống của Phật giáo như lời đức Phật dạy: “Này Hiền giả, thế nào là tiết độ trong ăn uống? Ở đây này Hiền giả, tỳ-kheo như lý giác sát, thọ dụng các món ăn. Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải dể tự mình làm đẹp mình mà chỉ để thân nầy được duy trì và được bảo dưỡng, để thân nầy khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh. Nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn.” Như vậy, này Hiền giả là tiết độ trong ăn uống” (180 Tương Ưng tập 4).

Đúng vậy, người tu sĩ Phật giáo ăn không cần ngon, ăn không phải vì ưa thích, ăn không phải để mập khỏe, trẻ đẹp mà ăn chỉ để duy trì sự sống, ăn để không bệnh tật, ăn để cơ thể được mạnh khỏe để tu tập, để sống đời Phạm hạnh. Ăn không vì các cảm thọ lạc mà vì sự ngăn ác pháp và diệt trừ ác pháp, ăn để sống trong tâm Bất Động để thấy được tâm thanh thản, an lạc, vô sự. Ăn để sống làm chủ thân tâm, cho nên ăn uống tiết độ của Phật giáo không có khó khăn, mệt nhọc. Chúng ta ăn uống mục đích giải thoát, vì vậy ăn để sống chớ không phải sống để ăn. Cho nên ai cho gì thì chúng ta ăn nấy chớ không phải vì ăn mà đi chọn lựa thức ăn này thức ăn khác.

Người muốn ăn cái này, cái khác hay chọn lựa thức ăn này, thức ăn kia là không đúng người đệ tử Phật. Nếu chúng ta chịu khó nhìn sự ăn uống của một người là biết người đó tu theo Phật giáo hay tu theo ngoại đạo. Người tu theo Phật giáo thì ăn ngày một bữa vào giữa ngày, không ăn uống phi thời lặt vặt, người ăn uống phi thời lặt vặt là không phải đệ tử của Phật giáo. Nhất là những người tuyệt thực lại còn không phải là đệ tử Phật, vì Phật không có dạy tuyệt thực. Tuyệt thực là những người đệ tử của ngoại đạo Bà La Môn.

Người tu theo Phật giáo mà còn lựa chọn món ăn này hay món ăn kia là không phải đệ tử của Phật.

Người tu theo Phật giáo mà còn ăn thịt chúng sinh mặc dù ăn không nghe, không thấy, không giết, không nghi, không biết cũng không phải đệ tử của đức Phật. Đạo phật là đạo Chánh Niệm Tỉnh Giác cớ sao lại ăn không thấy, không nghe, không giết, không nghi, không biết. Rõ ràng là ngoại đạo mà dán nhãn hiệu Phật giáo để lừa đảo phật tử.

Đạo Phật là đạo từ bi, khi ăn miếng thịt chúng sinh vào miệng mà không biết sao?

Ăn vô phân biệt, ăn không còn biết ngon hay dở. Đó là cánh thức tu sai Phật giáo, Phật giáo dạy ăn biết ngon mà không dính mắc chấp trước, thấy nghe cũng vậy phân biệt rõ ràng đẹp xấu, yên tĩnh hay ồn náo đều biết rất rõ nhưng không dính mắc chắp trước âm thinh, sắc tướng, không bị động tĩnh chi phối tâm. Trước mọi cảnh thuận hay nghịch tâm luôn luôn Bất Động. Đó mới là người tu theo Phật giáo. Cứ hở ra một chút là tâm bị động, bị chướng ngại, tâm luôn luôn bất an, người tu theo Phật giáo như vậy là theo ngoại đạo. Phật giáo không có dạy tu tập như vậy. Xin quý vị lưu ý đừng để mình tu tập sai pháp mà không biết thì thật là tội nghiệp.

26- CHÚ TÂM TỈNH GIÁC

Tỉnh Giác là một phương pháp đầu tiên cho người mới vào tu tập theo Phật giáo, vì vậy nó là một pháp môn rất căn bản cho những người mới vào đạo Phật. Một người theo Phật giáo thì hãy nên rèn luyện tu tập pháp môn này. Vậy chúng ta hãy nghe đức Phật dạy:

“Và này là Hiền giả, như thế nào là chú tâm tỉnh giác? Ở đây, này là Hiền giả, tỳ-kheo ban ngày khi đi kinh hành và ngồi, tâm gọt sạch các triền cái. Ban đêm trong canh một, trong khi vị ấy đi kinh hành và ngồi, tâm gọt sạch các pháp triền cái. Ban đêm trong canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên hữu, trong tư thế con sư tử, chân nầy đặt lên chân kia, chánh niệm tỉnh giác tác ý tưởng đến lúc ngồi dậy. Ban đêm trong canh cuối, khi vị ấy đi kinh hành và trong khi ngồi, tâm gọt sạch các pháp triền cái, như vậy gọi là chú tâm tỉnh giác.” (181 Tương Ưng tập 4).

Đọc lời dạy trên đây chúng ta thấy rất rõ phương pháp của Phật dạy tu hành chính là Tỉnh Giác, nhờ có Tỉnh Giác chúng ta mới gọt sạch từng tâm niệm ngũ triền cái và thất kiết sử. Nhưng muốn được Tỉnh Giác thì chỉ có pháp Như lý Tác Ý và Đi Kinh Hành. Nhờ pháp Như Lý Tác Ý và Đi Kinh Hành mà chúng ta hộ trì được các căn.

Ví dụ: Khi mắt thấy một chiếc xe hơi đang chạy trên đường, một con bò đang ăn cỏ, hay một người già chống gậy đi bộ trong vườn v.v... thì chúng ta liền Tác Ý:

“Mắt không nên nhìn xe hơi, con bò hay cụ già mà hãy quay vào nhìn hơi thở, biết Hơi Thở Ra Vô” hay “Mắt hãy nhìn chỗ Tâm Bất Động, Thanh Thản, An Lạc và Vô Sự.” Tai, mũi, miệng, thân, ý cũng vậy, khi nghe, cảm giác mùi vị, cảm xúc hay khởi niệm thì đều phải Tác Ý như vậy. Đó là phòng hộ sáu căn bằng pháp môn Như Lý Tác Ý để tập Tỉnh Giác trên hơi thở.

Pháp môn Như Lý Tác Ý là một pháp môn rất tuyệt vời, nó giúp cho tâm chúng ta Tỉnh Giác hoàn toàn. Nó còn giúp cho chúng ta làm chủ ăn uống, biết cách ăn để sống chớ không phải sống để ăn. Cho nên chúng ta không bị nô lệ trong ăn uống, làm chủ trong ăn uống. Nó còn giúp chúng ta chú tâm tỉnh giác, nhờ tâm có tỉnh giác chúng ta mới gọt rửa được ngũ triền cái, nhờ hằng ngày gọt rửa ngũ triền cái nên tâm chúng ta vô lậu hoàn toàn.

Khi tu tập ba pháp môn Tỉnh Giác, Độc Cư và An Uống Tiết Độ là chúng ta đều dùng pháp Như Lý Tác Ý dẫn tâm vào đạo thì chúng ta mới hoàn toàn giải thoát. Chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật dạy:

“Nầy các thầy tỳ-kheo! Đầy đủ được ba pháp ấy, một tỳ-kheo ngay trong hiện tại sống nhiều an lạc, hoan hỷ và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc. Thế nào là ba pháp? 1- Hộ trì các căn; 2- Tiết độ trong ăn uống; 3- Chú tâm tỉnh giác.” (289 Tương Ưng tập 4)

Nếu một người tu tập theo Phật giáo mà hoàn thành ba pháp môn này thì người ấy tâm hoàn toàn vô lậu, ngay đó họ chứng đạo vô thượng Bồ Đề. Cho nên Phật pháp rất đơn giản tu hành không có khó khăn mệt nhọc. Hãy cố gắng quý vị ạ! Giải thoát là làm chủ sinh, già, bệnh, chết hạnh phúc lắm quý vị ạ!

27- SA MÔN

Sa Môn là dịch âm tiếng Phạn Ấn Độ của người Trung Hoa. Sa Môn với tiếng Việt chỉ một vị tu sĩ đã thọ đầy đủ giới luật của Phật giáo. Tu sĩ Phật giáo hiện hiện giờ chỉ còn một số ít mới xứng đáng gọi là tu sĩ, còn phần đông thì phạm giới, phá giới, có vị còn có vợ con rất tự nhiên, xem thiên hạ chẳng ai biết gì về Phật giáo cả. Hầu hết các chùa Phật giáo cổ truyền các thầy đều có vợ con sống trong ngôi chùa như một gia đình.

Chúng ta hãy đọc lời xác định của đức Phật, một vị tu sĩ Phật giáo phải như thế nào mới gọi là một vị tu sĩ Phật giáo: “Sa môn là một người xa lìa ân ái, xuất gia tu hành, chế ngự các căn không nhiễm ái dục, có lòng thương xót tất cả mọi người, không làm thương tổn và giết hại chúng sinh, gặp khổ không phiền, gặp vui không mừng, nhẫn nại tâm như đất.” (Trường A Hàm tập I trang 56). Đó là lời dạy rõ ràng như vậy mà tu sĩ thời nay xem thường những lời tâm huyết này của đức Phật.

               Một vị tu sĩ Phật giáo theo như lời đức Phật dạy có 9 điều cần ghi nhớ:
               1- Xa lìa ân ái
               2- Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa
               3- Chế ngự các căn
               4- Không nhiểm ái dục
               5- Có lòng thương xót tất cả mọi người
               6- Không làm thương tổn và giết hại chúng sinh
               7- Gặp khổ không phiền
               8- Gặp vui không mừng
               9- Nhẫn nại tâm như đất

Một tu sĩ Phật giáo phải sống đúng 9 điều Phạm hạnh mà đức Phật đã nêu ra thì mới xứng đáng là một tu sĩ Phật giáo, còn sống không đúng thì không xứng đáng làm tu sĩ.

Cho nên căn cứ vào 9 điều trên đây mà chúng ta biết ngay người nào là tu sĩ Phật giáo và người nào không phải là tu sĩ Phật giáo. Không phải là tu sĩ Phật giáo thì họ chỉ là cư sĩ trọc đầu.

Xét 9 điều trên đây, tu sĩ Phật giáo hiện giờ chỉ là cư sĩ trọc đầu mà thôi. Nhìn thấy tu sĩ Phật giáo hiện giờ số lượng thì đông nhưng mà chất lượng tu hành chẳng có gì cả, thật là đau lòng xót dạ cho Giáo Hội Phật Giáo hiện giờ.

28- NGUYÊN DO NÀO CÓ SANH TỬ?

Muốn làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì phải bắt đầu tìm nguyên nhân nào sinh rasinh già, bệnh, chết. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Chúng sanh thật đáng thương, thường ở trong tối tăm, chịu lấy thân phận nguy khốn, nào sanh, già, bệnh, chết đến dồn dập đủ các thứ khổ não. Họ chết đây sanh kia, chết kia sanh đây, cứ duyên theo khổ ấm thân nên lưu chuyển vô cùng. Ta lúc mới hiểu rõ ngũ ấm và diệt hết sanh, già, bệnh, chết, thì Ta lại suy nghĩ: Sanh tử đâu đến? Duyên từ đâu mà có sanh? Do tự đặt ra câu hỏi như vậy Ta liền dùng trí tuệ quan sát nguyên do và thấy rằng, do sanh mà có lão tử, như vậy sanh là duyên của lão tử”. (Trường A Hàm tập I trang 60)

Lời dạy trên đây của đức Phật là một lý giải một nguyên nhân sinh ra lão tử làm chúng ta dễ hiểu mà hiểu một cách rất rõ ràng. Do cuộc sống hằng ngày mà mọi người theo tâm ngũ triền cái và thất kiết sử mà con người mới có lão tử.

Muốn không lão tử thì chúng ta phải sống không theo ngũ triền cái và thất kiết sử. Muốn sống không theo ngũ triền cái và thất kiết sử thì chúng ta phải dùng pháp Như Lý Tác Ý, khi tâm mỗi lần có niệm khởi thì mau mau lập tức phải tác ý liền: “Tâm Bất Động, Thanh Thản, An Lạc Và Vô Sự”.Cứ siêng năng tu tập khi có niệm khởi liền tác ý thì tâm trở về trạng thái tâm Bất Động, Thanh Thản. Tu tập như vậy chừng nào tâm không còn niệm khởi. Tâm không còn niệm khởi là tâm đã diệt sạch ngũ triền cái và thất kiết sử.

Dù chúng ta muốn diệt trừ một ác pháp nào thì chúng ta cũng phải dùng pháp dẫn tâm thì mới diệt trừ được ác pháp đó. Cho nên pháp Như Lý Tác Ý rất cần thiết cho người tu tập theo Phật giáo. Ngoài pháp Như Lý Tác Ý ra thì Phật giáo không còn có pháp nào tu tập hay hơn. Pháp môn Như Lý Tác Ý được xem là một thành trường kiếm của người dũng sĩ xông trận chiến thắng quân giặc, nếu không có thanh trường kiếm thì người dũng sĩ không bao giờ thắng giặc oanh liệt. Cho nên pháp Như Lý Tác Ý nó cũng quan trọng như vậy, xin quý vị nhớ cho.

29- NGUYÊN DO NÀO KHÔNG CÓ LÃO TỬ

Như trên đã nói chỉ có pháp Như Lý Tác Ý thì ngũ triền cái và thất kiết sử sẽ bị diệt trừ. Ngũ triền cái và thất kiết sử bị diệt trừ thì Sanh diệt trừ, Sanh diệt trừ thì Lão Tử sẽ diệt trừ, như đức Phật đã dạy: “Đức Phật lại tự suy nghĩ. Do những cái gì không có mà lão tử không có? Do cái gì đoạn diệt thì lão tử đoạn diệt? Rồi Ngài lại dùng trí tuệ quan sát nguyên nhân: Do sanh không có nên lão tử không có, do sanh diệt nên lão tử diệt”. (Trường A Hàm tập I trang 60)

Đúng vậy, Sanh không có thì Lão Tử không có, Sanh diệt thì Lão Tử diệt. Cho nên khi biết tu tập đúng pháp chân chánh thì làm chủ sanh, già, bệnh, chết đâu còn khó khăn nữa. Vì chúng ta biết nguyên nhân sinh ra Lão Tử thì ngay nguyên nhân đó mà diệt trừ. Sanh là nguyên nhân sinh ra Lão Tử, vì vậy chúng ta hằng giây, hằng phút, hằng giờ, hằng ngày dùng pháp Như Lý Tác Ý diệt trừ từng tâm niệm của Sanh thì Sanh bị diệt, tức là Ngũ Triền CáiThất Kiết Sử bị diệt.

.                                                                                                        .    
Bài kì trước:  
•  KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO (25.03.2014). 17- Các hành lấy vô minh làm nhân. 18- Không có dự tính. 19- Cảm giác lạc thọ. 20- Các pháp cần phải liễu tri. 21- Tùy pháp. 22- So sánh Phật và A la hán.
<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC HAY. Thầy Thích Bảo Nguyên. (20.11.2017)  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)