DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 3  
  Số lượt truy cập: 26992  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO  
Cập nhật ngày : 25.03.2014 (Đã đọc : 7549 lần )

            17- CÁC HÀNH LẤY VÔ MINH LÀM NHÂN

Thường người ở đời chưa biết Phật pháp nên sống trong Vô Minh, vì thế mỗi hành động việc làm trong cuộc sống hằng ngày đều tạo hành động (nhân) Vô Minh, mà đã Vô Minh thì tất cả mỗi hành động và việc làm đều bất thiện. Do nhân Vô Minh bất thiện nên phải gặt lấy quả khổ đau. Do Vô Minh nên các Hành Vô Minh, các Hành Vô Minh nên tạo ra muôn vàn thứ khổ đau. Cho nên Đức Phật nói:

“Các hành lấy vô minh làm nhân, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm tác sanh, lấy vô minh làm hiện hữu. Do vô minh có mặt nên các hành có mặt; do vô minh không có mặt nên các hành không hiện hữu.” (149 Tương Ưng tập 2)

            Chúng ta cứ suy ngẫm lại lời dạy trên đây rồi xét nghiệm lại cuộc sống hằng ngày. Chính con người đau khổ vì Vô Minh, làm mọi việc mà không biết mình làm thiện hay ác, đó là Vô Minh. Do Vô Minh nên cuộc đời con người phải chịu nhiều khổ đau và khổ đau mãi mãi. Muốn thoát mọi sự khổ đau thì phải phá vỡ Vô Minh. Phá vỡ Vô Minh thì phải Minh. Vậy làm như thế nào mới có Minh? Phải tin vào Phật, Pháp, Tăng và Giới, khi lòng tin đã được đầy đủ trọn vẹn thì chúng ta tập sống như Phật và học tập những pháp mà Phật đã dạy. Nhờ thế chúng ta mới có đủ: Lạc Thiện Hạnh, Lạc Trực Hạnh, Lạc Chánh Hạnh, Lạc Như Pháp Hạnh. Như vậy Vô Minh bị phá vỡ và Minh được hiện bày.

Minh được hiện bày thì Vô Minh không còn nữa. Vô Minh diệt thì giải thoát hoàn toàn, con người lúc bấy giờ không còn khổ đau nữa. Bởi chính Vô Minh mà con người đau khổ và nhờ có Minh mà con người thoát khổ. Vì vậy chúng ta biết ngay đạo Phật giải thoát không phải bằng thiền định mà bằng trí tuệ, mà trí tuệ muốn có được thì phải học tập.

Cho nên đạo Phật có tám lớp học rõ ràng, chứ không phải tu tập thiền định như kinh sách phát triển và kinh sách Thiền Tông dạy. Khi tri kiến được học tập đầy đủ giáo pháp của Đức Phật thì không có một ác pháp nào xen vào làm tâm hành giả động được. Vì thế đạo Phật còn có mang một cái tên là Đạo Trí Tuệ. Khi rõ được như vậy chúng ta đến với đạo Phật là đến với sự học tập nhưng phải học tập đúng giáo lý của đạo Phật mới có giải thoát.

Còn học tập sai pháp, tức là học tập kinh sách phát triển thì không bao giờ có giải thoát, dù quý vị này có bằng tiến sĩ Phật học nhưng lại do kiến giải của các Tổ dù là các Tổ Nam Tông hay Bắc Tông thì vẫn không đúng lời dạy của Đức Phật, nên bằng tiến sĩ chỉ để treo chơi chứ không có ích lợi giải thoát gì cho người học tập cả.

Học mà không tu như cái tủ đựng kinh sách, thật là uổng cho một đời làm tu sĩ. Có nhiều người tham vọng cao nên quyết tâm đi du học từ nước này đến nước khác, nhưng cuối cùng chẳng làm chủ được những gì trên thân tâm của họ. Nhưng lại mang danh đi tu khắp nơi trên thế giới để “nổ” với mọi người, chớ có lợi ích gì cho bản thân, chỉ vì danh mà thôi. 

18- KHÔNG CÓ DỰ TÍNH

Chúng ta hãy đọc kỹ những đoạn kinh Tương Ưng dưới đây để biết hành động sống của chúng ta có giải thoát hay không giải thoát, làm việc thiện có lợi ích phước báo hay không mà Đức Phật đã dạy:

“Này các thầy tỳ-kheo, nếu người nào còn bị vô minh chi phối, dự tính làm phước lành, thức của người ấy đi đến phuớc lành, nếu người ấy dự tính làm phi phước lành, thức của người ấy đi đến phi phước lành. Nếu người ấy dự tính làm bất động lành, thức của người ấy đi đến bất động lành.”

Qua lời dạy này chúng ta thấy rất rõ, nếu một người tu sĩ làm việc thiện thì tâm người ấy hướng về việc thiện chớ không thể hướng về giải thoát được, cũng như làm một việc bất thiện thì tâm người ấy hướng việc bất thiện chớ không thể hướng về sự giải thoát được. Cho nên ở đây chúng ta dựa theo nhân quả mà xét một người tu sĩ thì biết họ tu tập giải thoát hay không giải thoát. Làm việc thiện thì hưởng phước báo của việc thiện, làm việc ác thì phải thọ chịu quả khổ đau của việc làm ác đó. Không thể làm một việc này mà hưởng kết quả một việc khác được.

Nếu chúng ta đoạn tận Vô Minh thì chúng ta có giải thoát như lời Đức Phật dạy:

“Này các thầy tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo đoạn tận vô minh, minh được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước lành, không dự tính làm phi phước lành, không dự tính làm bất động lành. Do không có dự tính, không có dụng ý, vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.” (150 Tương Ưng tập 2).

Đọc qua lời của Phật trên đây chúng ta hiểu rất rõ. Đức Phật không có dạy chúng ta lạy lễ Phật nhiều để lập công bồi đức mà cũng không dạy chúng ta làm việc thiện để được hưởng phước báo rồi mới diệt Vô Minh để được giải thoát, mà Đức Phật dạy: Muốn giải thoát thì ngay đó phải vào diệt Vô Minh. Diệt Vô Minh thì không còn chấp thủ bất cứ một pháp nào dù thiện hay ác. Không chấp thủ thì không còn sợ hãi mà không còn sợ hãi thì tâm hoàn toàn tịch tịnh. Tâm hoàn toàn tịch tịnh thì “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm, đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.”

Lời Đức Phật dạy trên đây rất rõ, nếu một người còn Vô Minh mà đem hết sức mình ra làm những việc thiện để cầu được phước báo nhân thiên; để cầu hưởng được những công đức lợi lạc cho mình cho người; để được sự an vui giải thoát. Điều này không bao giờ có. Vì còn Vô Minh nên dù làm thiện pháp hay phi pháp đều không giải thoát, chỉ uổng phí cho một đời tu tập mà thôi. Vì còn Vô Minh nên dù làm điều thiện vẫn bị còn chấp thủ, do chấp thủ làm thiện nên người ấy thường sợ hãi, do sợ hãi nên không giải thoát. Có đúng như vậy không quý vị?

Cho nên một người đoạn tận Vô Minh làm những việc gì họ đều không chấp thủ, do không chấp thủ nên họ không sợ hãi. Không sợ hãi nên được giải thoát. Những lời dạy trên đây của Đức Phật rất là chí lý và quan trọng, nếu chúng ta chỉ cần phá vỡ Vô Minh đạt được Minh thì giải thoát hoàn toàn, vì tâm chúng ta không còn chấp thủ nên Minh mới có, còn chấp thủ thì Minh không bao giờ có.

Cho nên, tâm còn sợ hãi là tâm còn chấp thủ. Tâm còn chấp thủ là tâm Vô Minh. Một người chưa biết, chưa tu học theo Phật pháp thì còn Vô Minh. Cho nên mọi người trên thế gian còn khổ đau là do chấp thủ nên hoàn toàn họ còn Vô Minh. Trong mười hai nhân duyên, quan trọng nhất Vô Minh và Minh, nhờ đó chúng ta mới dễ xác nhận một người chứng đạo và một người chưa chứng đạo. Chứng đạo là một người phải sạch Vô Minh, khi Vô Minh sạch thì Minh hiện tiền.

Một người chứng đạo, ai chửi mắng hay làm bất cứ một việc gì họ vẫn thản nhiên Tâm Bất Động, còn một người chưa chứng đạo thì đụng việc cũng dễ sân hận, dễ phiền não v.v... Khi tâm còn phiền não sân hận là còn Vô Minh, khi nào tâm hết sân hận, hết phiền não là Minh.

Bởi còn Dự Tính làm việc này việc khác là còn Chấp Thủ nên còn Vô Minh. Ngược lại làm một việc gì chúng ta cần làm là cứ làm chớ đừng dự tính. Làm trong sáng suốt, việc gì làm ra việc nấy và thành công tốt đẹp, đó là làm trong Minh. Cho nên làm trong Minh là làm không có Dự Tính trước. Trong hiện tại thấy điều gì cần làm là cứ làm, đó là làm việc trong Minh.

Do làm không Dự Tính nên không chấp thủ, không chấp thủ thì không sợ hãi, không sợ hãi thì giải thoát hoàn toàn.

19- CẢM GIÁC LẠC THỌ

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường ưa thích cảm nhận thọ lạc mà rất sợ cảm nhận thọ khổ, vì thế hễ có cảm nhận thọ lạc là dính mắc, chắp thủ không bao giờ có ý muốn khởi niệm lìa xa chúng. Còn riêng Đức Phật dạy: Có những cảm nhận thọ lạc khiến cho chúng ta ưa thích thì chúng ta nên khởi niệm thoát ly niệm thọ lạc ấy chớ đừng sinh tâm ưa thích, chấp thủ sống trong trạng thái ấy. Ưa thích sống trong trạng thái ấy là sai vì đạo Phật không chấp nhận tất cả các cảm nhận thọ lạc. Chúng ta hãy nghe lời Phật dạy:

“Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết lạc vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly.” (151 Tương Ưng tập 2)

Ví dụ như chúng ta đang ăn một cái bánh rất ngon thì hãy khởi niệm lìa xa cái ngon của cái bánh, đừng để tâm còn thèm muốn ăn nữa. Nếu người nào làm đúng như lời Phật dạy như vậy thì thân tâm sẽ ly dục ly bất thiện pháp và như vậy tâm họ sẽ được giải thoát. Bởi, ý làm chủ, ý tạo tác, ý dẫn đầu các pháp nên ý thức khởi niệm lìa bỏ thì cảm giác thọ lạc được lìa bỏ theo ý mình muốn. Cũng như khi gặp trường hợp thọ khổ chúng ta cũng nên Tác Ý lìa bỏ thọ khổ thì thọ khổ cũng lìa xa thân tâm thì chúng ta không còn đau khổ nữa. Chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật dạy:

“Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ là vô thường, vị ấy biết nên không sợ hãi, nên không dính mắc, nên không đau khổ vì thọ khổ ấy, nhờ đó thọ khổ ấy được cảm giác với niệm thoát ly.” (151 Tương Ưng tập 2)

Như vậy rõ ràng pháp Như Lý Tác Ý là một phương pháp tuyệt vời của Phật giáo để làm chủ Sanh, Già, Bệnh, Chết. Nếu một người chịu khó tu tập một thời gian, khi pháp này đã trở thành một Năng Lực Của Ý Thức thì tất cả các pháp ác xâm chiếm vào thân hay tâm đều bị nó đẩy lui ra khỏi. Cho nên, pháp Như Lý Tác Ý như một đoàn quân bách chiến bách thắng, đánh đâu thắng đó không bao giờ thua trận.

Lạc thọ cũng như khổ thọ, chúng ta không tham đắm lạc thọ cũng như không sợ hãi khổ thọ. Cả hai thọ này chúng ta đều tác ý sống trong niệm thoát ly các thọ thì ngay đó chúng ta đều lìa xa tâm tham, sân, si, mạn, nghi. Cho nên Đức Phật dạy:

“Nếu vị ấy cảm giác biết khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ là vô thường, vị ấy biết như vậy nên không sợ hãi, vị ấy biết khổ thọ, nhưng khổ thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly.”  (151 Tương Ưng tập 2)

Bởi vậy, con đường tu tập để được thoát khổ thì chỉ có phương pháp Như Lý Tác Ý Dẫn Tâm Vào Đạo, nhờ đó trong bất cứ ác pháp nào thì chúng ta luôn luôn sống trong niệm thoát ly các cảm thọ, nhờ có sống trong niệm thoát ly các cảm thọ nên tâm được giải thoát hoàn toàn.

Khi chúng ta cảm giác khổ thọ tận cùng của sức sinh mạng chịu đựng của mình thì trở nên mát lạnh. Đúng vậy, khi chúng ta biết các cảm thọ là Vô Thường thì tâm không còn ưa thích và cũng không còn sợ hãi, vì thế lạc thọ cũng như khổ thọ đối với chúng ta không còn ý nghĩa tác dụng nên chúng ta vẫn thản nhiên, tâm bất động. Do đó chúng không còn tác động vào tâm chúng ta được, dù là trước cảnh sinh ly tử biệt chúng ta cũng không hề sợ hãi, vì thế tâm không còn dao động và trở nên mát lạnh, và cơ thể chỉ còn là một cái thi ma vô tri mà thôi. Cho nên Đức Phật dạy rất rõ ràng:

“Ta cảm giác một cảm khổ thọ tận cùng của sinh mạng. Vị ấy biết sau khi thân hoại mạng chung ở đây tất cả những cảm giác khổ thọ không làm cho Ta sợ hãi thì nó sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên.” (151 Tương Ưng tập 2)

Bởi vậy chúng ta đừng sợ hãi Khổ Thọ vì khổ thọ vẫn là pháp Vô Thường nên nó không làm gì được chúng ta. Đối với pháp Vô Thường chúng ta đừng sợ, đừng dao động tâm thì Khổ Thọ sẽ tan biến. Quý phật tử hãy ghi nhớ kỹ những lời dạy này, khi có bệnh khổ thì cứ ôm chặt pháp, đau bệnh mặc đau bệnh rồi nó sẽ không đau bệnh nữa. Bởi Đức Phật đã dạy như vậy, chúng ta hãy cố gắng gan dạ chịu đựng sự đau khổ của bệnh tật tận cùng sinh mạng mình thì bệnh tật sẽ tan biến.

20- CÁC PHÁP CẦN PHẢI LIỄU TRI

Người tu theo Phật giáo thì cần phải thông suốt những pháp nào? Những pháp cần thông suốt đó là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thông suốt những pháp này để làm gì? Thông suốt những pháp này là để tâm không dính mắc chấp trước. Vì Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là pháp Vô Thường không phải là ta, không phải là của ta, là bản ngã của ta.

Cho nên, sự thông suốt Ngũ Uẩn là các pháp Vô Thường không phải là ta, không phải của ta, không phải là bản ngã của ta thì rất có lợi. Vì nhờ thông suốt như vậy nó sẽ giúp chúng ta đoạn tận Tham, Sân, Si. Đoạn tận Tham, Sân, Si là giải thoát. Chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật dạy:

“Và này các tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải Liễu Tri? “Sắc, này các tỳ-kheo là pháp cần phải Liễu Tri,” “Thọ, là pháp cần phải Liễu Tri,” “Tưởng, là pháp cần phải Liễu Tri,” “Các Hành cần phảiLiễu Tri,” “Thức là pháp cần phải Liễu Tri.” Những pháp này, này các tỳ-kheo, là những pháp cần phải Liễu Tri.”

Vậy nghĩa của Liễu Tri là gì? Liễu Tri có nghĩa là biết rõ như thật không còn một chút nghi ngờ nào cả. Cho nên khi Liễu Tri Ngũ Uẩn thì chúng ta không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa. Do không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa thì tâm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi đã diệt sạch. Ở đây chúng ta diệt sạch Ngũ Triền Cái là do Liễu Tri Thân Ngũ Uẩn. Cho nên chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật dạy:

“Và này các tỳ-kheo, thế nào là liễu tri? Này các tỳ-kheo, sự đoạn tận Tham, sự đoạn tận Sân, sự đoạn tận Si, này các tỳ-kheo, được gọi là liễu tri.” (55 Tương Ưng tập III)

Chữ Liễu Tri ở đây Đức Phật dùng là để chỉ cho chúng ta biết sự hiểu biết thông suốt Ngũ Uẩn là các pháp Vô Thường, nhờ đó mới đoạn tận Tham, Sân, Si. Mà Tham, Sân, Si đã đoạn tận thì sự giải thoát ngay trước mắt của chúng ta.

21- TÙY PHÁP

Tùy Pháp nghĩa là gì? Tùy Pháp nghĩa là tâm mình biết nhẫn nhục, biết tùy thuận, biết bằng lòng trước các ác pháp. Biết nhẫn nhục, biết tùy thuận, biết bằng lòng trước các ác pháp là biết Sắc, Thọ, Tưởng, các Hành, Thức là Vô Ngã. Cho nên Tùy Pháp là biết rõ Sắc, Thọ, Tưởng, các Hành, Thức không phải là ta, là của ta, là bản ngã của ta. Bởi vậy người biết Tùy Pháp là người giải thoát mọi sự khổ đau theo như lời Đức Phật đã dạy:

“Ai sống tùy quán Vô Ngã trong Sắc, trong Thọ, trong Tưởng, trong các Hành và trong Thức; vị ấy liễu tri Sắc, liễu tri Thọ, liễu tri Tưởng, liễu tri các Hành và liễu tri Thức. Do liễu tri sắc, thọ, tưởng, các hành và thức; vị ấy giải thoát khỏi sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Giải thoát khỏi năm uẩn này là giải thoát khỏi sinh, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.” (82 Tương Ưng tập III)

Đúng vậy không sai, nếu biết Tùy Pháp tức là Liễu Tri các pháp, mà Liễu Tri các pháp thì tâm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi bị diệt sạch.

22- SO SÁNH PHẬT VÀ A LA HÁN

Phật và A-la-hán giống nhau và khác nhau chỗ nào?

Phật là người đầu tiên đem giáo pháp làm chủ sinh, già, bệnh và chết ra dạy người tu tập, còn những bậc A-la-hán chỉ theo lời dạy của đức Phật mà tu tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết. Như vậy sự khác nhau Phật và các bậc A-la-hán là Phật là Thầy các bậc A-la-hán là học trò.

Đức Phật và các bậc A-la-hán tu hành giải thoát giống nhau không ai hơn kém ai. Đức Phật tu tập làm chủ Sinh, Già, Bệnh, Chết thì các bậc A-la-hán cũng tu tập làm chủ Sinh, Già, Bệnh, Chết như nhau. Đây chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Như Lai, này các thầy tỳ-kheo là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác làm cho khởi lên con đường trước kia chưa ai làm khởi lên, đem con đường trước kia chưa được ai đem lại con đường, tuyên thuyết con đường trước kia chưa được ai tuyên thuyết con đường đó, bậc trí đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn nay, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo tiếp tục thành tựu đạo. Này các thầy tỳ-kheo đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai và bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và bậc tỳ-kheo A-la-hán được giải thoát nhờ trí tu.” (124 Tương Ưng tập III)

Kinh sách phát triển cho rằng có 7 vị Phật trong thời quá khứ, trước đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một điều không đúng sự thật. Vì đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã xác định chỉcó Ngài là người đầu tiên tuyên thuyết giáo pháp Tứ Diệu Đế. Nếu có giáo pháp nàytrước đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì Ngài chỉ là học trò như các vị A-la-hán khác mà thôi, như vậy làm sao Ngài dám tuyên bố những lời trên đây.

Người đời sau gian xảo ghê gớm thật, dám dựng lên 7 vị Phật quá khứ để phủ lên một lớp giáo lý tưởng, mê tín, mù quáng, lạc hậu đó với mục đích để diệt sạch giáo pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đúng vậy, nếu chúng tôi không dựng lại giáo pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì kinh sách Đại Thừa và kinh sách Thiền Đông Độ đã che đậy, phủ đầy không còn ai biết giáo pháp của đức Phật. May mắng thay là nhờ Phật giáo Nam Tông còn giữ lại giáo Pháp nguyên thủy nhưng cũng bị các sư tu tập chưa chứng đạo nên kiến giải viết ra kinh sách làm sai lạc của Phật. Do kinh sách kiến giải sai lạc của các Ngài làm cho mọi người tu tập không làm chủ Sinh, Già, Bệnh, Chết mà rơi vào các trạng thái tưởng.

Ngày xưa đức Phật cấm không cho các đệ tử tu chưa chứng thì không nên thuyết giảng một mình, mà muốn thuyết giảng thì phải có đức Phật chỉ định. Như ông A Nan chẳng hạn, mặc dù ông có trí tuệ nhớ không bỏ sót một lời nào của đức Phật nhưng khi ra giảng cho chúng tỳ-kheo thì đức Phật chỉ định chứ tự mình ra giảng thì không được.

Phật giáo nghiêm ngặt như vậy, thế mà bây giờ giảng sư đâu đâu cũng có, nhưng chẳng có ông nào làm chủ Sinh, Già, Bệnh, Chết được, đó là những người mang tội vọng ngữ, dạy người tu tập mà mình tu tập chẳng ra gì ngay cả giới luật còn còn vi phạm những giới trọng Ba La Di. Thật là Phật giáo đến hồi suy thoái nên mới có ma ba tuần phá hoại Phật pháp như vậy. Thật là đau lòng!

Đứng trước cảnh Phật giáo suy thoái chúng ta biết rằng phước chúng sinh phước báu quá mỏng, nên Phật giáo phải chịu long đong và mất dấu.

.                                                                                                           .

Bài kì trước:
•  KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO (05.03.2014). 14- Những căn bản của trí; 15- Năm sợ hãi hận thù; 16- Bốn dự lưu chi.

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC HAY. Thầy Thích Bảo Nguyên. (20.11.2017)  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)