DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 2  
  Số lượt truy cập: 26992  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO  
Cập nhật ngày : 05.03.2014 (Đã đọc : 8427 lần )
Bài kì trước: •  KINH MƯỜI HAI CỬA VÀO ĐẠO (17.02.2014). 
.                                                                                                                                      .

14- NHỮNG CĂN BẢN CỦA TRÍ

Mỗi người tu theo Phật giáo đều phải hiểu biết sự giải thoát của Phật giáo hoàn toàn do sự Hiểu Biết, nhưng hiểu biết thì phải bằng Trí Tuệ. Cho nên trong kinh thường gọi là Trí:

“Trí biết rằng già chết do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thì không có già chết. Trí biết rằng trong quá khứ già chết cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thì không có già chết. Trí biết rằng trong tương lai già chết cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thì không có già chết. Phàm khi nào có trí về trú pháp, chỗ ấy cũng có trí về tận pháp, hoại pháp, ly tham pháp và diệt pháp.”  (111 Tương Ưng tập 2)

Một người tu theo Phật giáo phải thông suốt sáu Trí như sau:

              1- Trí biết rằng Già Chết do duyên Sanh.
              2- Trí biết rằng không có Sanh thì không có Già Chết.
              3- Trí biết rằng trong quá khứ Già Chết cũng do duyên Sanh.
              4- Trí biết rằng không có Sanh thì không có Già Chết.
              5- Trí biết rằng trong tương lai Già Chết cũng do duyên Sanh.
              6- Trí biết rằng không có Sanh thì không có Già Chết.

Khi thông suốt sáu trí này thì người ấy có đầy đủ trí về Tận Pháp, trí về Hoại Pháp, trí vế Ly Tham, trí về Diệt Pháp, nhờ đó tâm họ hoàn toàn giải thoát tức là Bất Động trước các pháp. Tóm lại trên đây là phần trí hiểu biết gồm có Pháp Trí và Tùy Trí. Người tu hành theo Phật giáo mà không thông suốt hai trí này thì không thể nào giải thoát.

15- NĂM SỢ HÃI VÀ HẬN THÙ

Ở đời con người sống thường sợ hãi và thù hận. Nhưng ít ai truy tìm nguyên nhân nào sinh ra những sợ hãi và thù hận. Sợ hãi và thù hận là sự khổ đau của con người. Vậy muốn thoát ra mọi sự khổ đau ấy thì phải nhiếp phục năm sợ hãi và hận thù.

            Vậy nhiếp phục năm sợ hãi và hận thù bằng cách nào? Như trên đã nói phải truy tìm nguyên nhân nào sinh ra những sợ hãi và hận thù. Biết tâm trạng khổ đau của mình là như vậy, nhưng truy tìm nguyên nhân sinh ra sự khổ đau ấy thì chúng ta mù tịt như người đi trong đêm tối.

Vậy chúng ta phải nương vào Đức Phật, Người có đầy đủ trí tuệ sáng suốt sẽ dạy nhiếp phục sợ hãi và hận thù bằng năm phương pháp. Vậy năm phương pháp như thế nào?

Phương pháp thứ nhất đó là “Đoạn tuyệt sát sanh, đoạn tuyệt sát sanh thì sợ hãi, hận thù sẽ được nhiếp phục.” (127 Tương Ưng tập 2)

Đúng vậy, nguyên nhân sinh ra sợ hãi và hận thù là sự “giết hại và ăn thịt chúng sinh,” nếu không dứt trừ nguyên nhân này thì loài người mãi mãi sẽ khổ đau vĩnh viễn vì sợ hãi và hận thù. Hằng ngày trên hành tinh sống này con người đã giết hại chúng sinh để ăn thịt với số lượng không thể tính hết được.

Trước khi chết, chúng sinh kêu la thảm thiết và lăn lộn giãy giụa trước bàn tay độc ác của con người. Miếng ăn ai cũng xem là ngon bổ, nhưng khi nuốt qua khỏi cổ thì nó toàn là đồ bất tịnh. Quý vị có thấy không?

Vậy mà người ta tưởng nó là đồ ngon bổ giúp cho cơ thể con người khỏe mạnh. Sự thật không phải vậy, càng chạy theo ăn uống bằng thực phẩm chúng sinh thì bệnh tật càng nhiều. Quý vị cứ xét xem có người nào ăn thịt chúng sinh mà không bệnh tật đâu? Ăn thịt chúng sinh càng nhiều thì bệnh đau càng nhiều và sợ hãi càng to, vì sợ chết.

Vả lại, một con người cần phải có lòng yêu thương, vì lòng yêu thương mới nhiếp phục được sợ hãi và hận thù, chỉ có yêu thương chúng ta mới không giết hại và không ăn thịt chúng sanh.

Trong lời dạy của đức Phật là muốn nhiếp phục sợ hãi và hận thù thì không nên Sát Sanh, mà không sát sanh thì chỉ có lòng yêu thương sự sống. Mọi loài sống trên hành tinh này đều quý trọng sự sống, không có loài nào không quý trọng sự sống của mình, nhưng vì quá quý trọng sự sống của mình nên xâm phạm vào sự sống của loài vật khác, cho nên loài vật lớn ăn hiếp loài vật bé và giết hại chúng để ăn thịt.

Sự giết hại và ăn thịt nhau là vì không có lòng yêu thương. Con người hay con vật đều có sẵn lòng yêu thương, chỉ con người và loài vật cần phát triển lòng yêu thương ấy bằng những hành động như: Lời nói phải ôn tồn nhẹ nhàng, êm ái dịu hiền, không được nói lời thô lỗ, hung dữ, cộc cằn, la hét, nạt nộ v.v... 

Còn về hành động tay chân phải dịu dàng không nên đấm đá, múa tay, múa chân, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ hay bố thí những vật cần thiết cho người khác hay loài vật khác v.v...

Còn về ý suy nghĩ những điều lỗi lầm về người khác thì nên tha thứ và thương yêu họ. Chúng ta đừng vì những điều nhỏ nhặt mà tạo thêm sợ hãi và hận thù thì rất bất lợi cho mình cho người. Do những điều này mà Đức Phật dạy: Không nên Sát Sanh tức là dạy chúng ta phải biết Yêu Thương nhau.

Cho nên trong cuộc sống hằng ngày chúng ta sống chung nhau thì nên hài hòa với mọi người, đừng nghi ngờ lẫn nhau vì nghi ngờ làm cho chúng ta sợ hãi và hận thù. Khi nghi ngờ thì lòng Yêu Thương sẽ bị đánh mất. Mất lòng yêu thương thì cuộc sống sẽ mang đến muôn ngàn đau khổ. Bởi vậy trên đời này chỉ có lòng yêu thương thì cuộc sống sẽ không còn xung đột và chiến tranh thì mọi người sống mới được bình an yên vui và hạnh phúc.

Như ở trên chúng ta đã biết do sát sinh mà con người sợ hãi và hận thù, vì thế chúng ta chỉ cần không giết hại và ăn thịt chúng sinh thì sợ hãi và hận thù sẽ tiêu tan. Lời dạy này rất đúng, vì mọi người đã từng cầm dao giết hại chúng sinh. Trước cái chết không có con vật nào mà không sợ hãi và khi bị giết làm sao chúng không hận thù trong lòng. Theo luật nhân quả, giết hại và ăn thịt chúng sinh là tạo nhân sợ hãi hận thù nên quả là chúng ta phải luôn luôn sợ hãi và hận thù.

Phương pháp thứ hai đức Phật dạy: “Đoạn tuyệt lấy của không cho, sợ hãi hận thù sẽ được nhiếp phục.” (127 Tương Ưng tập 2)

Đúng vậy, trên đời này, nếu mọi người đừng tham lam trộm cắp cướp giựt của người khác thì làm sao có sợ hãi và hận thù. Chỉ vì tham lam trộm cắp, cướp của, khiến cho mọi người sợ hãi. Người có tiền của luôn luôn sợ mất mát, vì thế đâm ra nghi ngờ người này kẻ khác gian tham sẽ lấy của cải của mình. Còn người lấy của người khác thì sợ bị bắt vào tù ra khám. Bởi vậy sự sợ hãi hận thù do từ sự gian tham trộm cắp cướp giựt. Muốn sợ hãi hận thù không có thì phải chấm dứt gian tham, trộm cắp, cướp giựt.

Tham lam, trộm cắp, cướp giựt là một hành động đê tiện, hèn hạ xấu xa. Tài sản của người khác làm bằng mồ hôi và công sức rất vất vả cực khổ mới có, thế mà chúng ta nỡ tâm cướp giựt hay trộm cắp của người thì thật là đê tiện. Tại sao chúng ta không tự làm ra của cải tài sản để phục vụ cuộc sống của mình? Lại hèn hạ ăn không ngồi rồi mà muốn có của cải tài sản nhiều. Cho nên những kẻ tham lam trộm cắp cướp giựt của cải tiền bạc của kẻ khác là không xứng đáng làm người.

Muốn làm người cho ra con người thì phải chấm dứt ngay những tính tham lam, phải đoạn tuyệt lấy của không cho như lời dạy của Đức Phật. Đoạn tuyệt lấy của không cho thì không còn sợ hãi, thù hận sẽ không còn nữa thì đó là một lợi ích rất lớn cho mọi người. Cho nên muốn không còn sợ hãi và hận thù thì phải chấm dứt ngay Lấy Của Không Cho. Chỉ cần không lấy của không cho là sợ hãi và hận thù sẽ chấm dứt. Đó là nguyên nhân thứ hai sẽ giúp chúng ta nhiếp phục sợ hãi và hận thù.

Phương pháp thứ ba nhiếp phục sợ hãi và hận thù là phải đoạn tuyệt tà hạnh trong các dục vọng. Như lời Đức Phật dạy: “Đoạn tuyệt sống tà hạnh trong các dục vọng, sợ hãi hận thù sẻ được nhiếp phục.” (127 Tương Ưng tập 2)

Vậy tà hạnh trong các dục vọng là gì? Tà hạnh trong các dục vọng là lòng ham muốn thấp hèn, đê tiện, xấu xa như thấy vợ người sinh tâm tà dâm, thấy của cải tiền bạc của người khác không cho mà muốn lấy, thấy gà, vịt, cá, tôm muốn bắt giết làm thịt để ăn. Những tà hạnh dục vọng như vậy sẽ mang đến những sự sợ hãi, hận thù làm cho thân tâm đau khổ không bao giờ dứt. Bởi vậy những hành động nào làm khổ mình, khổ người là tà hạnh. Quý vị cần lưu ý?

Tà hạnh không chỉ có một nghĩa là gian dâm bất chánh với phụ nữ, với vợ người khác mà tà hạnh còn nhiều nghĩa khác nhau như: giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh v.v... Tham lam, trộm cắp, cướp giựt, lấy của không cho v.v... Nói dối lường gạt người khác, sống không thành thật v.v... Uống rượu say xỉn, v.v... Đó là những tà hạnh mà người có văn hóa đạo đức thì không ai làm những điều đó. Những người sống trong tà hạnh thường hay sợ hãi, hận thù nên đời sống bất an không bao giờ có những phút giây an vui chân thật.

Phương pháp thứ tư nhiếp phục sợ hãi hận thù là đoạn tuyệt nói dối như lời Đức Phật dạy: “Đoạn tuyệt nói láo, sợ hãi hận thù sẽ được nhiếp phục.” (127 T.Ư tập 2).

Đúng vậy, người nào không nói dối thì không bao giờ sợ hãi, vì nói dối luôn luôn sợ người ta phát giác ra mình nói dối thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Làm một điều gì gian xảo không thật thì trong lòng lúc nào cũng sợ hãi. Cho nên trên đời này muốn đừng sợ hãi thì không nên làm một việc gì gian xảo không thật.

Như người buôn bán đồ lậu thuế thì phải sợ hãi; một người ngoại tình với người khác thì rất sợ hãi; một người buôn bán hàng giả thì phải sợ hãi; một người làm ăn không lương thiện có sự mờ ám thì phải sợ hãi; một người tu sĩ sống phạm giới, phá giới thường sợ hãi với những người giữ giới luật, họ thường làm những việc lén lút như ăn uống phi thới, uống rượu lén, hút thuốc lén núp chỗ này chỗ khác, luôn luôn tâm họ bất an. Cho nên đoạn tuyệt nói dối và những việc làm gian xảo không thành thật thì tâm sẽ không còn sợ hãi.

Phương pháp thứ năm nhiếp phục sợ hãi hận thù là đoạn tuyệt uống rượu. Như lời Đức Phật dạy: “Đoạn tuyệt uống rượu, sợ hãi hận thù sẽ được nhiếp phục.” (127 Tương Ưng tập 2)

Rượu là chất độc sẽ phá hoại cơ thể chúng ta sinh ra nhiều thứ bệnh tật mà không có thuốc trị. Cho nên Phật giáo mới có giới cấm này, vì rượu là một chất độc gây nên bệnh tật và còn làm rối loạn thần kinh, cho nên một người say rượu họ ăn nói lung tung giống như người điên loạn trí. Khi nghĩ đến giới cấm này thì chúng ta tự hỏi: Tại sao Phật giáo lại có giới cấm uống rượu? Còn tất cả các tôn giáo khác không có giới cấm này. Đây là một điều mà chúng ta cần phải suy ngẫm và xét lại.

Rượu là một chất dễ kích thích thần kinh làm cho hưng phấn, khi một người uống rượu thường hay nói nhiều, nhưng khi say rượu thì không còn làm chủ ý thức nên hay nói ngang, nói dọc, nói trái, nói phải, nói xuôi, nói ngược, nói như thế nào cũng được. Người say rượu thần kinh không còn điều khiển cơ thể nên thưởng đi ngã tới, ngã lui, nghiêng bên này, ngả bên nọ, chân bước tới, chân bước lui, miệng thì ự ẹ, lúc thì la lối, lúc thì nói lầm thầm. Đầu óc không còn phân biệt chỗ dơ chỗ sạch, đụng đâu nằm đó, nằm co như con chó rồi lăn qua lộn lại, nước miếng đờm dãi dính đầy người trông rất bẩn thỉu không ai dám lại gần, gặp ai cũng muốn đánh, muốn chửi người đối diện vì thế gặp người say rượu ai cũng lẩn tránh xa.

Người say rượu thường nói lời hung dữ, thô lỗ tục tằn, chửi thề thiếu văn hóa không nhân phẩm. Cho nên chúng ta biết rượu làm mất trí con người. Vì vậy Đức Phật mới cấm uống rượu. Uống rượu là một tai hại rất lớn thường xảy ra bạo lực gia đình đều do uống rượu. Cho nên thấy ai uống rượu mọi người đều sợ hãi tránh xa.

Bởi vậy, đoạn tuyệt uống rượu thì sợ hãi sẽ được nhiếp phục. Một người sống mà không sợ hãi là giải thoát không còn khổ đau. Đúng vậy, nếu đoạn tuyệt năm điều Đức Phật cấm trên đây thì làm gì tâm còn sợ hãi và hận thù.

Bởi vậy, năm giới cấm của Phật rất cần thiết cho sự sống của mọi người, nếu mọi người ai cũng giữ gìn năm giới cấm này đừng vi phạm thì thế gian này là thiên đàng, cực lạc, đâu còn xung đột và chiến tranh, đâu còn tranh cãi hơn thua, đâu còn sợ hãi một điều gì nữa. Chính vì con người hay sợ hãi nên nghĩ ra cách này cách khác để không còn sợ hãi, nhưng tất cả những việc làm của thế gian tưởng là hết sợ hãi nhưng càng làm thì lại càng sợ hãi. Ví dụ một người sợ đói, lo làm ăn có tiền, có bạc, có thóc lúa nhiều thì lại sợ hãi người khác cướp bóc lấy của cải tài sản do mình làm ra, từ sợ hãi đói khát đến sợ hãi bị người lấy.

Cho nên giải quyết sự sợ hãi này thì có sự sợ hãi khác. Cứ như vậy chạy loanh quanh mãi mà không có lối thoát ra sợ hãi. Nếu chúng ta dựa theo lời Phật dạy mà giữ gìn năm giới cẩn thận, nghiêm chỉnh thì khiếp đảm sợ hãi sẽ tự nhiếp phục.

Tuy thấy năm giới cấm của Phật tưởng rất thường, vì mọi người cho đó là giới luật của người cư sĩ. Nhưng ta là người theo Phật giáo thì rõ năm giới cấm này rất quan trọng, cơ bản cuộc sống hạnh phúc cho một người dù người đó có theo Phật giáo hay không, hoặc theo một tôn giáo nào khác cũng không quan trọng, chỉ người đó biết sống đúng năm giới này là người đó đem lại cuộc sống của mình được bình an, yên ổn mà không có một ác pháp nào làm lay động tâm người ấy được.

Bởi vậy, nói năm giới nhiếp phục được sợ hãi, hận thù, mới nghe ai cũng không tin. Nhưng sự thật năm giới là những phương pháp nhiếp phục lòng sợ hãi và hận thù thì không có pháp nào hơn được.

Bởi vậy chúng tôi xin khuyên mọi người chớ xem thường năm giới cấm này, nó là phương pháp cơ bản nhất của Phật giáo để cứu mọi người ra khỏi mọi sự khổ đau mà Đức Phật đã xác định rõ ràng: Vốn con người khổ đau vì sợ hãi và hận thù. Cho nên vì sợ hãi hận thù mà con người chịu biết bao khổ ải. Vậy mà đạo Phật có phương pháp nhiếp phục được sợ hãi và hận thù đem lại sự bình an cho con người, thế mà chúng ta không tu tập thì quá dở, quá ngu si, mê muội. Phải không quý vị?

Không lẽ sống trong cuộc đời này chúng ta đành chịu những sự khổ đau dày vò mãi hay sao? Phải chi chúng ta không biết phương pháp giải thoát thì đành chịu, còn biết mà đành chịu thì đâu phải là người trí.

16- BỐN DỰ LƯU CHI

Khi chúng ta đến với đạo Phật là phải đến với lòng tin. Vậy đến với lòng tin là đến như thế nào?

Thứ nhất chúng ta tin Phật là tin một người có đầy lòng yêu thương tất cả vạn vật, không làm tổn thương chúng sanh, không bao giờ Ngài ăn thịt chúng sanh.

Thứ hai chúng ta tin Phật là người không bao giờ tham lam lấy của không cho, luôn luôn có được những gì Ngài sẵn sàng bố thí giúp đỡ người khác.

Thứ ba chúng ta tin Phật là tin người không bao giờ có tâm dâm dục trần tục, Ngài là người sống với thân tâm thanh tịnh trong sáng không bao giờ để dâm dục làm nhơ bẩn thân tâm. Ngài xem tâm dâm dục là một thứ dục lạc nhơ nhớp uế trược sinh ra nhiều thứ khổ đau của kiếp người.

Thứ tư chúng ta tin Phật là người không bao giờ nói dối, không lường gạt dù bất cứ một việc nhỏ nhặt nào với ai, Ngài luôn luôn là người thành thật.

Thứ năm chúng ta tin Phật là người không bao giờ uống rượu dù một giọt nhỏ cũng không bao giờ nếm.

Lấy năm giới đức hạnh làm tiêu chuẩn cho một người đức hạnh như Phật vì Đức Phật là một người không hề vi phạm trong năm giới luật này. Vì thế mọi người đều phải tin Đức Phật. Vả lại Đức Phật là con vua cháu chúa mà bỏ sự giàu sang của mình đi tu thì thật là vĩ đại. Nhất là khi đi tu Ngài là người có đủ khả năng làm chủ được sinh, già, bệnh, chết. Đó là một điều mà mọi người trên thế gian này không ai làm được, vì thế mọi người càng tin Đức Phật nhiều hơn nữa.

Đức Phật là một con người thật, có cha mẹ sinh ra và lớn lên trên hành tinh này. Ngài là người Ấn Độ, con của một nhà vua, lớn lên đi tu làm chủ được sự sống chết, cho nên mọi người ai cũng đầy đủ lòng tin bất di, bất dịch đối với Đức Phật.

Đây là lòng tin thứ nhất mà mọi người theo Phật giáo không thể nào thiếu khuyết được. Như trong kinh Tương Ưng dạy: “Đầy đủ lòng tin bất động đối với Phật.” Khi đã tin Phật thì tất cả những gì Đức Phật dạy chúng ta đều tin tròn đầy. Vả lại những lời dạy của Đức Phật rất thiết thực và lợi ích rất lớn cho những ai đã có duyên được nghe dù chỉ một lần cũng tìm thấy sự an vui trong sự sống. Nhờ nghe những lời dạy ấy mà mọi người chủ động làm chủ được tâm mình không bị các ác pháp chi phối làm khổ mình, khổ người.

Do được nghe những lời dạy của Đức Phật nên lòng ham muốn giảm dần và sự an vui tăng dần lên một cách rất rõ ràng, cụ thể, tuy rằng chưa tu tập gì cả, nhưng đã có lợi ích như vậy. Bởi vì pháp của Phật là đạo đức nhân bản – nhân quả dạy sống không làm khổ mình, khổ người và tất cả muôn loài chúng sanh. Pháp đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh như vậy nên mọi người phải đầy đủ lòng tin, vì thực tế ai không tu theo Phật pháp thì thôi mà đã tu theo Phật pháp thì lòng tin tuyệt đối không thể có ai làm thối chuyển lòng tin ấy được. Như lời Phật đã dạy: “Đầy đủ lòng tin đối với Pháp do Đức Phật khéo thuyết.” Pháp của Phật là một phương pháp cải tạo sự sống, từ sự sống đau khổ chuyển đổi thành sự sống an vui và hạnh phúc, giúp cho loài người thoát khổ bằng sức tự lực của mình.

Những đệ tử của Đức Phật hầu hết là những bậc đều đã chứng quả Vô Lậu nên đức giới tỏa ra sáng suốt vô cùng vô tận, nếu ai có duyên chỉ gặp một lần cũng đủ lòng tin không bao giờ thối chuyển. Chúng đệ tử Phật là những bậc Lạc Thiện Hạnh, những bậc Lạc Trực Hạnh, những bậc Lạc Chánh Hạnh, những bậc Lạc Như Pháp Hạnh. Những bậc tu hành như vậy làm sao chúng ta không tin. Phải không quý vị? Nhìn những gương mặt của những bậc này lúc nào cũng thấy một niềm vui hân hoan, không thấy có một chút xíu nào phiền não buồn rầu trên gương mặt của các Ngài.

Thật là vi diệu thay cho pháp Phật đã đem lại cho loài người một niềm vui chân thật, vì thế chúng ta làm sao không tin những đệ tử của Đức Phật. Phải không quý vị? Vậy chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật dạy:

“Đầy đủ lòng tin đối với Chúng Tăng là đệ tử Thế Tôn, là bậc Lạc Thiện Hạnh, là bậc Lạc Trực Hạnh, là bậc Lạc Chánh Hạnh, là bậc Lạc Như Pháp Hạnh.”

Đúng vậy những bậc mà đầy đủ những đức hạnh này thì làm gì chúng ta không tin. Nghe những tên đức hạnh này chúng ta đã hình dung được những bậc giải thoát như thế nào rồi. Giới luật đức hạnh của Phật giáo là một sự sống mang lại sự an vui cho mình, cho người và cho tất cả các loài chúng sanh. Vì thế giới luật đức hạnh của Phật không có một phong cách sống làm người có văn hóa và đạo đức nào hơn, vì vậy chúng ta hãy tuyệt đối tin vào giới luật đức hạnh của Phật. Chúng ta hãy theo như lời Phật dạy mà thực hiện một đời sống giới luật nghiêm chỉnh, một lòng tin tuyệt đối không bao giờ thay đổi:

“Đầy đủ lòng tin đối với Giới Luật Đức Hạnh được các bậc thánh quý mến không bị bẻ vụn, không bị hủy hoại, không có tỳ vết, không có vết nhơ, đưa đến tự do, được người trí tán thán, không bị nhiễm trước đưa đến thiền định.” (128 Tương Ưng tập 2)

Đúng vậy, nếu ai tin tưởng vào giới luật đức hạnh của Phật mà thực hiện đời sống của mình thì sẽ được giải thoát như lời Đức Phật đã dạy: “Giới luật Phật còn là đạo Phật còn, giới luật mất là đạo Phật mất.”

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC HAY. Thầy Thích Bảo Nguyên. (20.11.2017)  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)