DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 6  
  Số lượt truy cập: 26938  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• KINH BA MƯƠI BẢY PHÁP TRỢ ĐẠO  
Cập nhật ngày : 17.02.2014 (Đã đọc : 9206 lần )

BÀI PHÁP THỨ BẢY: THẤT GIÁC CHI

               Thất Giác Chi gồm có:
               1- Niệm Giác Chi.
               2- Tinh Tấn Giác Chi.
               3- Khinh An Giác Chi.
               4- Hỷ Giác Chi
               5- Định Giác Chi
               6- Xả Giác Chi
               7- Trạch pháp Giác Chi

Trên đây là Bảy pháp, pháp môn thứ bảy của Phật giáo theo lời dạy của đức Phật còn ghi lại trong kinh sách Nguyên thủy.

Khi chúng ta tu tập tác ý tâm Bất động mà chỉ còn có một tâm Bất động từ giờ này đến giờ khác mà không có một niệm nào xen vào chỗ tâm Bất động là chúng ta đã đạt được Niệm Giác Chi. Niệm Giác Chi tức là tâm Bất động trên Tứ Niệm Xứ (Trên Thân Quán Thân).

Lúc nào chúng ta cũng thấy siêng năng trong trạng thái thân tâm Bất động trên Tứ Niệm Xứ thì đó là Tinh Tấn Giác Chi xuất hiện.

Trên trạng thái Tinh Tấn Giác Chi xuất hiện tâm Bất động, An lạc, Nhẹ nhàng thì đó là Khinh An Giác Chi xuất hiện.

Trên trạng thái Khinh An Giác Chi có một niềm vui hoan hỷ thì đó là Hỷ Giác Chi xuất hiện.

Trên trạng thái Hỷ Giác Chi kéo dài từ ngày này sang ngày khác mà không mất trạng thái này là Định Giác Chi xuất hiện.

Trên trạng thái Định Giác Chi này kéo dài mãi suốt bảy ngày đêm không có một niệm nào xen vô xen ra thì đó là Xả Giác Chi. Khi Xả Giác Chi xuất hiện thì tâm ly dục ly ác pháp hoàn toàn, lúc bấy giờ tâm không còn năm triền cái và bảy kiết sử nữa.

Khi Ngũ Triền Cái và Thất Kiết Sử bị diệt trừ tận gốc thì Trạch Pháp Giác Chi xuất hiện. Khi Trạch Pháp Giác Chi xuất hiện thì tâm chúng ta đầy đủ Tứ Như Ý Túc.

BÀI PHÁP THỨ TÁM: TỨ NHƯ Ý TÚC

              Tứ Như Ý Túc gồm có:
               1- Định Như Ý Túc
               2- Tinh Tấn Như Ý Túc.
               3- Tuệ Như Ý Túc
               4- Dục Như Ý Túc

Trên đây là Bốn pháp, pháp môn này là pháp môn thứ tám của Phật giáo theo lời dạy của đức Phật còn ghi lại trong kinh Nguyên thủy. Tổng cộng lại tất cả các pháp tu tập của đao Phật chúng ta có đúng Ba mươi bảy pháp, ngoài ba mươi bảy pháp này để thực hiện trọn đủ trong chương trình Bát Chánh Đạo thì không còn pháp môn nào khác nữa. Xin quý vị lưu ý đừng để giáo pháp ngoại đạo lừa đảo.

Đạo Phật chỉ có ba mươi bảy pháp tu tập này mà thôi, nó không còn một pháp nào khác nữa. Nếu còn có pháp môn nào ngoài Ba mươi bảy pháp này thì đó là pháp môn của ngoại đạo.

Bởi vậy Phật giáo có pháp môn riêng của Phật giáo mà ngoại đạo không bao giờ có những pháp môn ấy. Cho nên ngoại đạo không thể nào mạo nhận pháp môn của mình là pháp môn của Phật giáo được.

Kinh sách Đại Thừa và kinh sách Thiền Tông muốn mạo nhận những kinh sách này là của Phật thuyết nhưng không làm được, nên Đại Thừa và Thiền Tông mới nghĩ ra phương cách gạt tín đồ bằng cách dựng lên những trang thiền sử có 33 vị Tổ sư thiền Ấn Độ và Trung Quốc.

Kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông làm trái ngược lại với lời di chúc của đức Phật trước khi nhập Niết Bàn: “Này các thầy tỳ-kheo, sau khi Ta nhập diệt các thầy tỳ-kheo hãy lấy Giới Luật và Giáo Pháp (Tứ Niệm Xứ) của Ta làm thầy, làm chỗ nương tựa vững chắc, không nương tựa một điều gì khác, đừng lấy ai làm thầy cả.”

Kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông làm sao gạt được khi kinh sách Nguyên thủy còn ghi lại lời di chúc đó. Ba mươi bảy pháp môn của Phật còn kia thì bộ mặt dối trá bị lật tẩy.

Quý vị có thấy không? Quý vị cũng biết kinh sách Phát triển Đại Thừa và kinh sách Tối Thượng Thừa của Thiền Tông Trung Hoa cố ý mạo nhận là Phật thuyết nên xếp kinh A Hàm những lời đức Phật dạy vào hàng Tiểu Thừa để lừa đảo mọi người. Nhưng khi đọc kinh Nikaya nguyên gốc của Phật mới biết Đại Thừa và Tối Thượng Thừa là kinh sách của Phật giáo Trung Quốc chịu ảnh hưởng Khổng giáo và Lão giáo rất nặng. Cho nên kinh sách Đại Thừa và kinh sách Tối Thượng Thừa không phải là Phật giáo Nguyên thủy.

Kinh sách Đại Thừa và kinh sách Tối Thượng Thừa là kinh sách lai căng nhưng nó lúc nào cũng muốn làm đàn anh của Phật giáo nên mới bày ra nhiều thủ đoạn để diệt kinh sách Phật giáo Nguyên thủy. Có diệt kinh sách Nguyên thủy thì mới có thể thay thế kinh sách Đại Thừa và kinh sách Thiền Tông vào. Kinh sách Đại Thừa và kinh sách Tối Thượng Thừa tu hành không bao giờ làm chủ Sinh, Già, Bệnh, Chết. Cho nên kinh sách này không bao giờ dám đá động đến việc tu tập làm chủ sinh tử và chấm dứt luân hồi.


BÀI 9: CĂN CỨ VÀO ĐÂU MÀ BIẾT
37 PHÁP TRỢ ĐẠO LÀ CỦA PHẬT GIÁO?

Do đâu chúng tôi căn cứ mà biết Ba Mươi Bảy Pháp Môn này là của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng. Do từ các kinh sách Nguyên Thủy, xin quý vị hãy nghiên cứu tạng kinh Nikaya do HT Minh Châu dịch từ tiếng Pali sang Việt ngữ.

Nhất là chúng tôi căn cứ vào bài pháp Thức ăn trong kinh Nikaya để giải nghĩa rõ ràng. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Này các tỳ-kheo! Cái gì là thức ăn cho Minh Giải Thoát (Tam Minh)? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy.”

Minh Giải thoát tức là Ba Minh: 1- Túc Mạng Minh; 2- Thiên Nhãn Minh; 3- Lậu Tận Minh.

Túc Mạng Minh là một trí tuệ siêu việt của Phật giáo. Ai tu hành có được trí tuệ này thì nhìn về quá khứ biết rõ nhiều đời nhiều kiếp của mình và của những người khác. Biết kiếp trước chúng ta sinh ở nước nào, làng nào, xã nào, huyện nào, tỉnh nào, tên gì, họ gì, nghèo giàu đều biết rất rõ, nhờ trí tuệ này mới biết người chết đây sinh kia chứ không có linh hồn đi đầu thai xuống địa ngục hay lên thiên đàng, hay sống theo con cháu bốn mươi chín ngày để làm tuần, làm tự rồi mới tái sanh kiếp khác. Đó là sự tưởng tượng của các tôn giáo còn lạc hậu mê tín.

Thiên Nhãn Minh là một trí tuệ thứ hai, nó quan sát không gian vũ trụ không chỗ nào là không thấy. Không có một vật gì trong không gian vũ trụ mà nó bỏ sót dù vật ấy rất nhỏ như hạt vi trần. Xưa đức Phật dùng Thiên Nhãn Minh nhìn vào một ly nước và tuyên bố rằng trong ly nước có vô lượng trùng. Thời gian đó ít ai tin, nhưng đến thời đại khoa học có kính hiển vi và kính thiên văn họ bảo rằng Đức Phật nói không sai.

Lậu Tận Minh là một trí tuệ thứ ba thấu suốt mọi vật, mọi pháp trên thế gian này không có pháp nào thường còn, toàn là vô thường, không có pháp nào là ta, là của ta, là bản ngã của ta, chỉ là theo các duyên hợp mà thành ra vạn vật, vạn pháp, rồi cũng theo các duyên tan mà vạn vật, vạn pháp hoại diệt, chứ không có một đấng Vạn Năng nào sinh thành, và cũng không có một đấng Sa Tăng nào diệt vạn vật.

Cho nên không ai làm khổ mình và mình cũng không làm khổ ai, chỉ có mười hai duyên tan hợp mà khổ đau trùng trùng diễn tiếp khổ này đến khổ khác. Do Trí tuệ Lậu Tận Minh mà Đức Phật thấy con người sống trong lậu hoặc nên chịu đau khổ vô vàn.

Người tu hành muốn có được ba trí tuệ này thì phải thực hiện tâm Bất động trên Tứ Niệm Xứ bảy ngày đêm. Khi sống được bảy ngày đêm tâm Bất động thì Bảy Năng Lực Giác Chi lần lượt xuất hiện:

Bảy Giác Chi:1- Niệm Giác Chi; 2- Tinh Tấn Giác Chi; 3- Khinh An Giác Chi; 4- Hỷ Giác Chi; 5- Định Giác Chi; 6- Xả Giác Chi; 7- Trạch pháp Giác Chi.

Khi Bảy Giác Chi xuất hiện đầy đủ thì chúng ta có đủ Tứ Thần Túc: 1- Tinh Tấn Như Ý Túc; 2- Định Như Ý Túc; 3- Tuệ Như Ý Túc; 4- Dục Như Ý Túc.

Khi có Bốn Như Ý Túc thì mới nhập được Tứ Thánh Định, còn chưa có Bốn Như Ý Túc thì không bao giờ nhập Tứ Thánh Định được, do đó ai nói nhập thiền định bảy tám ngày hay sáu bảy tháng là nhập thiền định tưởng.

Cho nên khi người nào nói về thiền mà nói không đúng lời dạy của Phật là biết ngay họ là những người chịu ảnh hưởng pháp thiền của ngoại đạo, còn không là những người nghiên cứu kinh sách rồi nói ra thì chúng ta cũng biết ngay, họ là những người sống trong kiến giải tưởng chớ không biết cách thức nhập thiền định nào cả.

Như Đức Phật dạy khi nào chúng ta tu chứng thì mới dám dạy người tu, còn chưa chứng thì đừng dạy, nếu dạy sẽ đưa người ta vào con đường thiền tưởng. Như hiện giờ các sư, các thầy từ Nam Tông đến Bắc Tông tu chưa xong mà dạy người tu nên thầy trò tu thiền mà vào bệnh viện trị bệnh, thật là xấu hổ vô cùng.

Thiền sư dạy người tu thiền là phải làm chủ bệnh, chớ thiền sư gì mà chết trong bệnh ung thư như thiền sư ni Ayya Khema. Thiền sư đã viết 25 tác phẩm nói về thiền và Phật giáo, nhưng cái chết của thiền sư thì sách của thiền sư không còn giá trị nữa. Vì thiền còn bệnh tật là thiền ngoại đạo.

Nếu người nào tu theo đúng pháp của Phật, tâm Bất Động trên Tứ Niệm Xứ như trên đã dạy, nhập từ Sơ thiền đến Tứ thiền thì tất cả bệnh đau trên thân đều đuổi ra khỏi thân. Và chính Tứ thiền là pháp môn làm chủ sự sống chết, có nghĩa hành giả nhập được Tứ thiền thì tịnh chỉ được hơi thở, nhờ đó muốn sống chết hồi nào thì cũng rất tự tại, chết là chết ngay liền. Thiền định như vậy mới thật sự là thiền định của Phật giáo.

Nhìn lại từ Đông sang Tây, biết bao nhiêu là thiền sư, ông thì bị xe đụng chết, ông thì đi nằm bệnh viện rồi chết, những bệnh của quý vị thiền sư đều thuộc về loại bệnh nan y.

Khi được làm thiền sư dạy đạo thì phật tử dâng cúng những thực phẩm ngon bổ, càng ngon bổ thì càng độc, do đó “thích” ăn ngon bổ nên không có vị nào thoát khỏi những bệnh nan y. Đạo Phật ly dục ly bất thiện pháp, thế mà thiền sư còn thích ăn ngon bổ, vậy xưng là thiền của Phật giáo thì thiền của Phật giáo làm sao có thiền như vậy được.

Tu hành chưa nhiếp được tâm bao nhiêu mà đi dạy người khác tu, thật là những người đang “háo danh” muốn mình làm thầy thiên hạ. Thật đáng chê trách. Muốn làm thầy dạy người tu tập thì phải có đủ Bảy Năng Lực Giác Chi, nếu chưa có thì nên im hơi lặng tiếng để lo tu tập cứu mình ra khỏi biển khổ. Đó là điều duy nhất quý vị nên làm, đừng nghĩ đến ai cả mà hãy nghĩ đến mình.

Muốn tu tập có Bảy Năng Lực Giác Chi thì phải tìm hiểu pháp nào tu tập mà có Bảy Năng Lực Giác Chi, chớ không phải từ trên pháp môn Bảy Giác Chi tu tập mà có Bảy Giác Chi. Quý vị nên nhớ kỹ bài pháp các “Thức ăn.” Nếu quý vị không biết pháp nào tu tập có Bảy Năng Lực Giác Chi thì hãy lắng nghe Đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo! Cái gì là thức ăn cho Năng Lực Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy.”

Theo như lời dạy trên đây của đức Phật thì Bốn Niệm Xứ là pháp môn tu hành sinh ra Bảy Năng Lực Giác Chi. Vậy cách thức tu tập Bốn Niệm Xứ như nào? Như trong kinh Bốn Niệm Xứ đức Phật đã dạy tu tập.

Tứ Niệm Xứ: 1- Trên thân quán thân; 2- Trên thọ quán thọ; 3- Trên tâm quán tâm; 4- Trên pháp quán pháp.

Vậy trên thân quán thân như thế nào? Trên thân quán thân có nghĩa là dùng mắt nhìn thấy, tai lắng nghe, cảm nhận xúc chạm và ý thức quan sát ngay trên thân, nếu thân có đau nhức chỗ nào liền biết ngay, thân đi biết thân đi, thân ngồi biết thân ngồi, thân nằm biết thân nằm, thân đứng biết thân đứng v.v...

Bất cứ thân làm điều gì đều biết, thân ăn biết thân ăn, thân ngủ biết thân ngủ, thân quét sân biết quét sân, thân lặt rau đều biết thân lặt rau, thân ngồi yên biết thân ngồi yên và khi thân ngồi yên bất động thì biết hơi thở ra hơi thở vô trên thân.

Tất cả hành động đều được xem là trên thân quán thân. Dù quán hơi thở ra hơi thở vô cũng chính là trên thân quán thân. Tuy nói trên thân quán thân nhưng thật sự là đang quán bốn chỗ: thân, thọ, tâm, pháp. Vì biết thân là biết thọ, biết thọ là biết tâm, biết tâm là biết pháp, biết pháp là biết thân. Cho nên trên Tứ Niệm Xứ biết chỗ này thì liền biết chỗ khác. Bốn chỗ này như một khối, tuy nói bốn nhưng mà một.

Quán thân trên thân tức là tâm tỉnh thức trên thân, nên thân xảy ra một điều gì dù lớn lao hay nhỏ nhặt tâm đều biết rất rõ. Cho nên nói trên thân quán thân chớ kỳ thực là quán tâm Bất động, nếu tâm Bất động suốt bảy ngày đêm là tu tập chứng đạo. Nhưng trong suốt bày ngày đêm tâm thường bị hôn trầm thùy miên vô ký và loạn tưởng thì nên dùng pháp ngăn ác diệt ác để mà diệt các ác pháp này. Nếu muốn rõ pháp tu hành thì nên lắng nghe Đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy.”

Đúng vậy chỉ có lấy thiện diệt ác pháp mới không bị ức chế tâm. Theo như lời Phật dạy: “Ba thiện hạnh nghĩa là gì?”

Ba thiện hạnh: là ba hành động thiện trong thân của mọi người như:

1- Nói lời êm dịu, nhẹ nhàng, ôn tồn nhã nhặn, thường nói lời ái ngữ khiến cho người nghe không buồn khổ, không tức giận, được an vui và hạnh phúc. Không được nói lời hung dữ, không được nạt nộ người khác, không được mắng chửi người khác, không được nói lời thô tục, tục tĩu, không được chửi thề, không được xỉa xói vào mặt người khác, không được đánh đập người khác.

2- Làm những điều thiện tức làm mọi việc không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh.

3- Suy nghĩ những điều thiện tức là nghĩ ngợi những điều không làm khổ mình khổ người và khổ tất cả chúng sinh.

Khi thân hành, khẩu hành và ý hành không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh thì tâm sẽ Bất động, Thanh thản, An lạc, Vô sự. Cho nên, muốn tâm được Bất động, Thanh thản, An lạc, vô sự thì Trên Thân Quán Thân thường xem xét Thân Hành, Khẩu Hành và Ý Hành, nếu mỗi hành động đều đem lại sự bình an cho mình cho người thì hãy làm, còn không đem lại sự an vui cho mình cho người và cho tất cả chúng sinh thì mình nhất định không làm. Tuy trên thân quán thân như vậy chưa đủ sức diệt các ác pháp, vì sáu ác pháp bên ngoài thường theo sáu căn mà vào thân tâm làm cho thân tâm bất an, như vậy chúng ta tu tập như thế nào để hộ trợ cho pháp môn trên thân quán thân đạt được viên mãn. Vậy chúng ta hãy nghe Đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn Được Chế Ngự, cần phải trả lời như vậy.”

Thầy xin nhắc lại, nếu chúng ta tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ trên thân quán thân mà không thực hiện Ba Thiện Hạnh thì không bao giờ chứng được trạng thái Tứ Niệm Xứ, cũng như chúng ta tu tập Ba Thiện Hạnh mà các căn không chế ngự tức là không Độc Cư thì Ba Thiện Hạnh không thành công có nghĩa là không bao giờ diệt hết ác pháp. Cho nên Chế Ngự các Căn là một vấn đề quan trọng trong việc tu tập Ba Thiện hạnh. Vậy chế ngự các căn là chế ngự như thế nào? Trong thân con người có (sáu căn), ở đây ta tìm hiểu năm căn:

1- Nhãn căn (hai con mắt); 2- Nhĩ căn (hai lỗ tai); 3- Tỷ căn (hai lỗ mũi); 4- Thiệt căn (lưỡi); 5- Thân căn (cơ thể).

Chế ngự các căn là làm cho căn không chạy theo các trần bên ngoài, không bị các trần bên ngoài lôi cuốn các căn. Căn và trần không lôi cuốn, không chạy theo thì tâm Bất động hiện tiền, quý vị có thấy không?

Rất tiếc quý vị về đây tu tập người nào cũng mong muốn chứng đạo nhưng luôn luôn để Căn và Trần tìm nhau thì làm sau chứng đạo hỡi quý vị? Đời thì khổ vô vàn, các pháp vô thường nay còn, mai mất không chờ đợi một ai. Cớ sao quý vị lại xem thường, có gì vui mà ham nói chuyện; có gì vui mà ham nhìn ngó người khác làm gì? Muốn tu chứng đạo hãy siêng năng Chế Ngự Các Căn, nhờ đó mới mong chứng đạo quý vị ạ!

Muốn chế ngự các căn có kết quả vậy chúng ta hãy tu tập các pháp môn nào? Chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật dạy: “Này các tỳ-kheo! Cái gì là thức ăn cho Các Căn Được Chế Ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy.”

           Đức Phật đã dạy rõ ràng: “Chánh Niệm Tỉnh Giác” là pháp môn tu tập “Chế Ngự Các Căn.” Chánh Niệm Tỉnh Giác là một pháp môn tu tập trên Thân Hành ngoại và Thân Hành Nội tức là nương vào Thân Hành tu tập.

           .                                                                                                                                      .  

Bài kì trước:
• KINH BA MƯƠI BẢY PHÁP TRỢ ĐẠO (20.01.2014). Kì 3: 3-Tứ Vô Lượng Tâm; 4- Tứ Bất Hoại Tịnh; 5- Tứ Chánh Cần; 6- Tứ Niệm Xứ.  

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC HAY. Thầy Thích Bảo Nguyên. (20.11.2017)  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)