DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 6  
  Số lượt truy cập: 26400  
     
  Untitled Document
   
 
  Chánh kiến
• KINH BA MƯƠI BẢY PHÁP TRỢ ĐẠO  
Cập nhật ngày : 25.12.2013 (Đã đọc : 13666 lần )
           LỜI GIỚI THIỆU

Đức Phật dạy: “Như nước biển chỉ duy nhất có một vị: đó là vị mặn. Cũng vậy, giáo pháp của Như Lai chỉ duy nhất có một vị: đó là Giải thoát”.

Vậy Giải thoát là gì? Đức Phật dạy, Trưởng Lão Thông Lạc dạy: Diệt đế trong Bốn Diệu Đế chính là trạng thái Giải thoát của con người. Con người sinh ra có ai mà không khổ? Tham, sân, si là khổ. Hết tham, sân, si là hết khổ. Người hết khổ là người đã Giải thoát, là người sống trong trạng thái Niết-bàn, cũng là trạng thái tâm Bất động thanh thản an lạc và vô sự.

Vì sao con người khổ? Con người khổ vì bị trôi lăn trong bao nhiêu kiếp sống luân hồi - nhân quả. Vì vô minh (5 Triến Cái) ngăn che, vì tham ái (hữu Kiết sử) trói buộc nên con người khổ hải trầm luân mãi mãi không làm sao thoát ra được.  

Làm thế nào để thoát khổ? Đức Phật dạy, Trưởng Lão Thông Lạc dạy: Muốn Giải thoát (thoát khổ), con người phải học tập và thực hành theo con đường Giới – Định – Tuệ. Đó chính là con đường Tám Chánh Đạo do đức Phật khai mở và hoằng dương cho nhân loại từ hơn 25 thế kỷ trước.

Con đường Tám Chánh bắt đầu từ đâu? Trưởng Lão Thông Lạc dạy, những ai muốn đi đúng con đường Tám Chánh phải thông hiểu các pháp Học và pháp Hành thì mới không bị lạc vào Tà đạo.

Pháp Học căn bản của đạo Phật là Bốn Diệu Đế, 8 Chánh đạo, 12 Nhân duyên

Pháp Hành cơ bản là 37 Pháp Trợ Đạo. Chỉ và chỉ có 37 pháp này mới bảo đảm đưa dẫn hành giả đến bờ giải thoát hoàn toàn.

Suốt mấy ngàn năm, biết bao nhiêu pháp (84.000 pháp môn) của kinh sách phát triển và thiền Đông Độ truyền dạy không phải là chánh pháp đức Phật hoằng truyền. Do vậy hành giả tu tập từ bấy đến nay không thấy có một người nào giải thoát.

Bài kinh 37 Pháp Trợ Đạo chúng tôi giới thiệu dưới đây do Trưởng Lão Thông Lạc dạy là 37 Pháp Tu Tập của Phật giáo bảo đảm giúp cho người tu hành chứng đạo.

GNCN xin trân trọng giới thiệu đến quý phật tử và độc giả bài kinh:

BA MƯƠI BẢY PHÁP TRỢ ĐẠO

              LỜI NÓI ĐẦU

Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo của Phật giáo là một bảng thống kê các pháp tu hành của đạo Phật, từ người sơ cơ mới bắt đầu tu tập cho đến khi chứng đạo, có đầy đủ 37 pháp hành, từ dễ đến khó và lý giải rành mạch rõ ràng. Vì thế bài kinh này có tên là Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo có nghĩa là Ba mươi bảy pháp môn giúp cho người tu chứng đạo.

Người nào có hiểu biết nghĩa lý Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo là người tu tập không bao giờ sai đường lạc lối của Phật giáo. Vì thế trước tiên muốn tu tập theo Phật giáo, chúng tôi xin khuyên quý vị hãy nghiên cứu kỹ lưỡng Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo rồi mới tu tập.

Khi đã thông suốt Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo thì không có pháp môn nào của ngoại đạo mạo nhận là của Phật giáo để lừa đảo quý vị được. Ngoài Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo này, trong đạo Phật không còn có một pháp môn nào khác nữa. Nếu có pháp môn nào khác ngoài Ba Mươi Bảy Pháp Môn này là pháp môn của ngoại đạo. Đó là điều chắc chắn mà đức Phật đã xác định như vậy.

Dựa vào Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo mà chúng ta xem xét lại kinh sách Đại Thừa và kinh sách Thiền Tông thì tất cả kinh sách này không phải của Phật giáo. Bởi những kinh sách này dạy tu tập ức chế ý thức: “Vô Niệm, Vô Phân Biệt”, còn kinh sách Phật dạy: “Ly dục, ly bất thiện pháp. Bởi các pháp môn của ngoại đạo không bao giờ có pháp môn nào giống như trong Ba Mươi Bảy Pháp Môn Trợ Đạo này.

Quý vị hãy xem xét lại pháp môn Tịnh Độ thuộc hệ phái Bắc Tông dạy tu hành bằng cách nhiếp tâm chuyên ròng câu Niệm Hồng Danh Phật Di Đà. Phật Di Đà là một đức Phật tưởng tượng của Đại Thừa, chớ Phật Di Đà không có hộ khẩu trên hành tinh này, vì thế Phật Di Đà là Phật tưởng, Phật không có thật. Khi niệm Phật Di Đà được nhất tâm bất loạn tức là ức chế ý thức không còn niệm khởi nên tưởng thức hoạt động, do đó người niệm Phật liền thấy cảnh giới Tây phương cực lạc. Đó là cảnh giới tưởng hiện ra.

Thiền Tông cũng bắt chước niệm Phật để được nhất tâm. Khi nhất tâm thì ý thức không khởi niệm vọng tưởng thì Thiền Tông gọi là thiền định. Khi không có niệm khởi vọng tưởng liền gọi là Thiền định. Thiền định như vậy chỉ là Thiền định của Đại Thừa và Thiền Tông, chớ Thiền định của đạo Phật không phải vậy, khi một người tu hành theo Phật giáo phải ly dục ly bất thiện pháp trải qua các pháp tu tập như pháp môn Tứ Chánh Cần.

Tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần thì phải luôn luôn ngăn ác và diệt ác pháp, nhờ đó tất cả các niệm khởi lên đều là niệm thiện. Sau khi ngăn ác và diệt các ác pháp sạch thì tâm định trên thân. Khi tâm định trên thân là tâm đang ở trên Tứ Niệm Xứ. Khi tâm luôn luôn sống trên Tứ Niệm Xứ suốt bảy ngày đêm thì tâm chứng đạt được Chánh Niệm. Khi tâm chứng đạt Chánh Niệm thì tâm có đủ Tứ Thần Túc. Khi tâm có đủ Tứ Thần Túc thì lúc bấy giờ tâm mới có đủ khả năng nhập Tứ Thánh Định. Như vậy con đường tu tập của Phật giáo mới hoàn mãn. Còn ngược lại tâm chưa có Tứ Thần Túc mà nhập Thiền định, thì đó là Thiền định của ngoại đạo, của Thiền Tông Trung Quốc.

Trải qua trên 10 năm tu tập theo những pháp môn thiền của Thiền Tông Trung Quốc, chúng tôi đã đạt được nhất tâm bất loạn từ ngày này sang ngày khác, nhưng khi xả ra thì xét lại tâm mình vẫn còn tham, sân, si, mạn, nghi. Biết rõ như vậy, chúng tôi đành bỏ không tu tập nữa. Khi nhập định thì không có tâm tham, sân, si, mạn, nghi, nhưng khi xả ra thì tâm tham, sân, si, mạn, nghi vẫn còn nguyên vẹn.

Trong khi nghiên cứu Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo, chúng tôi thấy Đại Thừa và Thiền Tông không có pháp môn nào giống như Ba Mươi Bảy Pháp của Phật. Do đó chúng tôi biết ngay các Tổ Đại Thừa và Thiền Tông tưởng giải tạo ra những pháp môn tu tập ức chế ý thức, làm cho hết vọng tưởng nhưng không ly dục ly ác pháp nên tâm chúng sinh vẫn còn nguyên.

Do nguyên nhân này nên chúng tôi nghiên cứu lại Phật giáo rất kỹ lưỡng và thấy lời dạy của đức Phật rất rõ: “Ý dẫn đầu các pháp. Ý làm chủ. Ý tạo tác”. Đạo Phật không diệt ý thức mà còn sử dụng ý thức để tạo thành lực Tứ Thần Túc. Nhờ lực Tứ Thần Túc mới làm chủ Sinh, Già, Bệnh, Chết.

Cho nên Phật giáo Thiền Tông Trung Quốc dạy: kiến tánh thành Phật, chẳng niệm thiện niệm ác bản lai diện mục hiện tiền, biết vọng không theo hay biết vọng liền buông, chăn trâu, tham thoại đầu, tham công án, khởi nghi tình v.v… Những pháp hành này trong kinh sách Nguyên thủy Phật không có dạy. Vậy mà các Tổ Trung Quốc dám cả gan mạo nhận là Phật thuyết. Lại còn viết bộ sử 33 vị Tổ Sư Thiền Tông Trung Hoa và Ấn Độ bắt đầu từ tổ Ca Diếp lấy kinh tưởng Pháp Hoa làm niềm tin cho mọi người.

Kinh Pháp Hoa là một loại kinh đại vọng ngữ nhất trong các kinh Đại Thừa. Đây quý vị nghe kinh dạy: “Dù cho tạo tội như núi cả. Diệu Pháp Liên Hoa tụng mấy hàng”. Đọc câu kinh này quý vị còn có lòng tin kinh này nữa không?

Tạo tội ác như núi mà chỉ cần tụng mấy hàng trong kinh này thì tội ác tiêu tan như mây khói. Vậy luật nhân quả ở đâu? Và thế gian này sẽ không còn trật tự an ninh, vì con người là những người đầu trộm đuôi cướp mà không có pháp luật nào trị tội họ được, vì họ có kinh Pháp Hoa hộ trì.

Kinh sách Đại Thừa dạy đi ngược lại đạo đức nhân bản của loài người, và như vậy kinh sách này là kinh sách phi đạo đức. Kinh sách Đại Thừa xuất xứ từ nơi đất nước Trung Quốc do các sư thầy Trung Quốc truyền sang qua Việt nam như: Lục Tổ Huệ Năng, Bách Trượng, Nam Tuyền, Khuê Phong Tông Mật, Hám Sơn, Thập Đắc, Hàn Sơn, Hư Vân Hòa Thượng v.v…

Các sư thầy Việt Nam chỉ biết chấp hành học và tu tập theo tạng kinh chữ Hán của người Trung Quốc. Vì thế, nói về tu thiền thì Việt Nam chẳng có pháp môn thiền nào là của người Việt Nam cả. Sau này nhờ có Hòa thượng Minh Châu dịch kinh Nikaya ra Việt ngữ nên Việt Nam mới có mùi vị của Phật giáo chính gốc, nhờ đó mà tạng kinh bằng chữ Hán của người Trung Quốc lần lượt bị loại trừ ra khỏi tư tưởng văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Phật giáo Trung Quốc cứ ngỡ tưởng truyền sang qua Việt Nam là người Việt Nam nghe đâu đều chấp nhận đó. Người Trung Quốc đã hiểu lầm tưởng người Việt Nam là một dân tộc thiểu số trong rừng núi cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đak Lak. v.v….

Người Việt Nam là một dân tộc tự lực, tự cường, cho nên không bao giờ chịu khuất phục bất cứ một nước nào, dù nước đó văn minh như Mỹ, Pháp, nhưng vẫn không cai trị dân tộc này được, dù 1000 năm bị người Trung Quốc cai trị chia đất nước này làm quận huyện của Trung Quốc, nhưng vẫn bị dân tộc này mời ra khỏi đất nước bằng những chiến công hiển hách.

Gần đây 100 năm bị người Pháp cai trị, nhưng dân tộc Việt Nam vẫn kiên cường bất khuất không đầu hàng giặc. Và cuối cùng dân tộc Việt Nam mời họ ra khỏi đất nước trả lại nền độc lập tự cho dân tộc Việt Nam.

Người Trung Quốc tưởng đem tư tưởng nào nhồi nhét vào đầu óc của dân tộc Việt Nam một cách dễ dàng. Người Việt Nam không dễ dàng như vậy đâu. Khi tu học thì tu học nhưng đều có sự xét lại, lời dạy của các tổ sư Trung Quốc dạy không đúng pháp của Phật giáo.

Phật giáo Nam Tông Miến Điện dạy tu tập thiền Minh Sát Tuệ bằng pháp môn nhiếp tâm phình xẹp nơi cơ bụng.

Phật giáo Mật Tông Tây Tạng, các vị Lạt Ma dạy niệm các thần chú ức chế tâm để tưởng thức hoạt động xuất hiện cầu vồng, đó cũng là cách thức lừa đảo tín đồ Phật giáo ham mê thần thông.

Đem tất cả các pháp môn này so sánh với Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo của Phật giáo thì chúng ta không thấy có một pháp môn nào giống pháp môn của Phật giáo cả. Và như vậy chúng tôi xác định các pháp môn này không phải của Phật giáo là đúng không sai. Các pháp này đều là của tà giáo ngoại đạo. Xin quý vị lưu ý.

Cho nên các hệ phái tôn giáo do các tổ Trung Quốc thành lập, cứ đem pháp môn tưởng giải của mình rồi gắn nhãn hiệu Phật giáo để lừa đảo tín đồ Phật giáo Việt Nam. Một người sơ cơ mới vào đạo như quý vị phật tử làm sao thấu hiểu pháp nào của Phật giáo và pháp nào của các tổ. Cho nên quý vị rất dễ lầm lạc và cũng rất dễ bị lừa dối của các tổ Trung Quốc và các vị Lạt Ma Tây Tạng.

Làm điều này các tổ sư Trung Quốc cũng như các tổ sư Lạt Ma Tây Tạng sơ sót quên nghiên cứu Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo của Phật giáo nên khi phật tử đã am tường giáo pháp này thì các tổ sư đã đánh mất niềm tin với tín đồ. Chính vì thế mà chúng tôi không còn tin kinh sách Đại Thừa, Thiền Tông và các vị Lạt Ma Tây Tạng v.v….

Các tổ theo lối mòn kiến tưởng giải của các sư tổ mình trước kia tự dựng lên một sự giả dối ngoài sức tưởng tượng của con người. Họ cho rằng Phật giáo có 84 ngàn pháp môn. Vậy chúng ta gom hết các pháp của tất cả tôn giáo trên hành tinh này cũng không có tới 1.000 pháp môn, huống lại có đâu tới 84 ngàn pháp môn.

Cái sai của các Tổ sư Thiền Tông Trung Quốc cố đặt ra pháp môn rồi gán cho Phật giáo là không ai bắt bẻ. Nhưng Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo đã xác định đạo Phật chỉ có 37 pháp môn chớ không có 84 ngàn pháp môn như các tổ đã tự bịa đặt ra để gạt người.

Thiếu nghiên cứu về Phật giáo nên các tổ quên rằng đức Phật chỉ dạy tu tập Ba Mươi Bảy Pháp Môn mà thôi, ngoài ra không có pháp môn nào nữa cả. Cho nên các hệ phái tôn giáo của Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng, Ấn Độ v.v… hay bất cứ một nước nào trên thế giới cũng không lừa gạt được quý vị.

Như vậy chúng ta biết rất rõ Thiền Tông và Tịnh Độ Tông là Phật giáo Trung Quốc hoàn toàn chịu ảnh hưởng tinh thần tư tưởng và pháp hành của Nho giáo và Lão giáo. Cho nên Phật giáo Trung Quốc cũng không phải Phật giáo tinh chuyên của Phật giáo mà là một Phật giáo lai căng. Nhưng xét qua góc độ Nho giáo thì Nho giáo cũng không phải là Nho giáo chuyên ròng và Lão giáo cũng vậy, nó cũng không chuyên ròng là Lão giáo. Cho nên Phật giáo truyền sang qua Trung Quốc đã bị ảnh hưởng với Nho giáo thì gọi là Đại Thừa, đã bị ảnh thưởng với Lão giáo thì gọi là Tối Thượng Thừa. Như vậy, những pháp môn của các giáo phái này không phải là của Phật giáo chánh tông, vì nó đã bị lai căng theo Nho giáo và Lão giáo của Trung Quốc.

Từ khi Phật giáo Trung Quốc truyền sang qua Việt Nam đến nay chưa có một vị Hòa thượng nào làm chủ sinh, già, bệnh, chết như đức Phật, thường quý vị chết trong bệnh tật đau khổ.

Khi hiểu biết được như vậy chúng ta muốn tu theo Phật giáo thì phải nghiên cứu kinh sách Nguyên thủy do Hòa thượng Minh Châu dịch ra Việt ngữ thì đó mới dám bảo đảm lời dạy của đức Phật, nhưng những lời dạy này được một vị tu chứng làm chủ sinh, già, bệnh, chết mà giảng giải nghĩa lý thì những lời dạy của đức Phật mới không bị kiến tưởng giải làm sai lệch.

Kinh sách Phật mà đưa cho một người tu chưa chứng đạo giải thích thì nghĩa lý sai lệch cũng như kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông hiện giờ cũng vậy do những người tu chưa chứng đạo biên soạn viết ra. Thật là một tai hại cho nhiều thế hệ người sau.

                                                                                                     Trưởng Lão Thích Thông Lạc
                                                                                                                           Kính ghi.

             (GNCN cố gắng giữ gìn những lời chân nguyên - tức tâm huyết - của Trưởng Lão nên có sự khác đôi chút so với sách ấn bản của NXB Tôn giáo ấn hành đã bị kiểm duyệt cắt xén hoặc yêu cầu tác giả sửa, bớt).


1- BẢN TÓM LƯỢC SƠ ĐỒ BA MƯƠI BẢY PHÁP TRỢ ĐẠO

Ba mươi bảy pháp trợ đạo gồm có theo thứ tự tu tập từ các pháp thấp đến các pháp cao như sau:

1). Ngũ Căn gồm có: 1- Nhãn căn; 2- Nhĩ căn; 3- Tỷ căn; 4- Thiệt căn; 5- Thân căn. Người mới tu tập thì phải tu Ngũ Căn trước tiên. Vậy tu tập Ngũ Căn như thế nào?

Theo ngôn ngữ Việt Nam thì Ngũ Căn có nghĩa là Năm Gốc. Do Năm Gốc này sinh ra muôn vàn ác pháp khiến cho con người phải chịu đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác.

Chính con người dựa vào Năm Gốc này mà tạo biết bao ác nghiệp, rồi cũng chính mình thọ lấy những ác nghiệp ấy. Những ác nghiệp ấy do từ những hành động Thân, Miệng, Ý của mình tạo ra, rồi tự mình gánh chịu những quả báo. Cho nên trên đời này không ai đem sự đau khổ cho mình mà do chính mình tạo ra.

               Như chúng ta đã biết năm căn gồm có:
              1- Nhãn căn: Nhãn căn tức là con mắt.
              2- Nhĩ căn: Nhĩ căn là lỗ tai.
              3- Tỷ căn: Tỷ căn là lỗ mũi.
              4- Thiệt căn: Thiệt căn là cái lưỡi.
              5- Thân căn: Thân căn là thân tứ đại.

Như vậy tu tập mắt, tai, mũi, miệng, thân là tu tập như thế nào? Trong Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo là phải tu tập năm căn trước tiên. Tu tập năm căn trước tiên là tu tập phương pháp phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân.

Vậy phương pháp phòng hộ như thế nào? Phương pháp phòng hộ là phương pháp bảo vệ và giữ gìn không cho Năm Căn dính mắc Năm Trần. Vậy Năm Trần là gì?

               Năm Trần gồm có: 1- Sắc; 2- Thanh; 3- Hương; 4- Vị; 5- Xúc.
               Vậy Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc là gì?
               1- Sắc là hình tướng.
               2- Thanh là âm thanh, tiếng nói, lời ca hát, tiếng la, tiếng hét, tiếng hò v.v...
               3- Hương là mùi thơm, mùi thối v.v...
               4- Vị là vị ngọt, bùi, cay, đắng, vị mặn, vị lạt v.v...
               5- Xúc là va chạm, sự cảm nhận êm ái, khô cứng, ướt át, nhẹ nhàng hay nặng nề v.v...

Phòng hộ là bảo vệ và giữ gìn không cho năm Căn dính mắc năm Trần tức là giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân không cho dính mắc vào sắc, thinh, hương, vị, xúc.

Trước tiên chúng ta tu tập Nhãn Căn tức là giữ gìn con mắt, khi nó thấy hình tướng, mầu sắc như: mầu vàng, mầu đỏ, mầu trắng, mầu đen, mầu xanh v.v... thì thường nó theo mầu sắc đẹp xấu mà dính mắc.

Khi mắt thấy sắc thì trong ý chúng ta phải có sự tư duy và hiểu biết ngay. Các pháp hình danh sắc tướng trên thế gian này toàn là pháp Vô Thường, nay còn mai mất như nước chảy qua cầu, như bóng ngựa lướt qua cửa sổ, đâu có pháp nào thường còn bất di bất dịch, vì thế khi mắt thấy sắc chúng ta đừng để tâm vào nó. Nó đến nó đi mặc kệ nó, chúng ta đừng quan tâm, nó chỉ là hình bóng của nhân quả, nếu ai không hiểu thì nó sẽ tác dụng vào tâm làm cho chúng ta dính mắc, vì dính mắc nên chúng ta mới thọ nhiều sự khổ đau.

Tốt hơn hết khi mắt thấy sắc thì chúng ta nên tác ý: “Mắt hãy nhìn vào trong thân, thấy toàn cả khắp thân mình, không nên thấy bên ngoài, vì tất cả hình danh sắc tướng bên ngoài là ác pháp, chúng sẽ mang đến sự đau khổ cho chúng ta.”

Khi nào con mắt chịu quay vào nhìn thân của nó thì chúng ta không còn dính mắc sắc tướng bên ngoài. Nhờ có tu con mắt như vậy nên mắt thấy sắc không dính mắc. Khi tu tập con mắt thuần thục, cứ mỗi lần tác ý là mắt liền nhìn vào thân biết hơi thở ra hơi thở vô và cảm nhận từ chân đến đầu, từ đầu đến chân.

Người siêng năng tu tập phòng hộ và giữ gìn con mắt như vậy suốt bảy ngày đêm chỉ duy nhất biết nhìn trên thân thì người ấy có Thiên Nhãn Minh. Bởi vậy chúng ta chỉ cần tu tập phòng hộ con mắt thanh tịnh như vậy thì chúng ta cũng chứng đạo. Chứng đạo của đạo Phật không khó, chỉ người có ý chí, có quyết tâm nỗ lực tu tập thì sớm muộn gì cũng thành công. Nếu chúng ta tu tập phòng hộ con mắt khó khăn vì con mắt cứ thấy cái này cái kia sinh ra đính mắc chấp đắm mà không tìm cách nào hàng phục con mắt được thì chúng ta tu tập Nhĩ Căn.

Tu tập Nhĩ Căn là tu tập lỗ tai. Tu tập Nhĩ Căn cũng rất quan trọng không thua gì tu tập Nhãn Căn. Con mắt thấy các vật đều dính mắc thì Lỗ Tai nghe âm thinh cũng dính mắc không kém. Do đó tu tập Lỗ Tai là phải hết sức phòng hộ Lỗ Tai, mỗi khi có âm thinh thì nên tác ý ngăn và diệt âm thinh không nên để tác động vào tâm, vì âm thinh tác động vào tâm thì tâm bị dao động và dính mắc.

Cho nên muốn tu tập Nhĩ Căn thì pháp Như lý Tác ý rất cần thiết cho sự giữ gìn và phòng hộ Nhĩ Căn. Nhờ thế âm thinh đến, đi không tác động được vào thân tâm. Có phòng hộ được như vậy thì thân tâm mới thanh tịnh. Cho nên tu tập Nhĩ Căn rất quan trọng trong giai đoạn mới bước chân vào đạo Phật. Người nào tu theo Phật giáo đầu tiên mà không tu tập Ngũ Căn thì sau này rất khó tu và có tu tập thì cũng chẳng có kết quả, và như vậy suốt cuộc đời tu theo Phật mà chẳng tìm thấy sự giải thoát, chỉ toàn thấy sự khổ đau.

Khi tu tập Nhĩ Căn thuần thục thì nên tiếp tục tu tập Tỷ Căn. Tỷ Căn là nơi tiếp xúc các mùi hương. Cho nên người tu tập Tỷ Căn cần phải biết tất cả mùi thơm đều là mùi cám dỗ dục lạc, vì thế khi ngửi thấy mùi thơm thì nên tác ý: “Tâm không được đắm nhiễm mùi thơm, vì mùi thơm khiến cho sinh dục, mà dục là gốc khổ đau”. Nhờ có tác ý như vậy nên tâm không dính mắc mùi thơm. Đó là một phương pháp phòng hộ Tỷ Căn tuyệt vời, nếu ai siêng năng tu tập thì từ nơi Tỷ Căn thanh tịnh cũng chứng đạo giải thoát, chớ không phải tu tất cả năm căn mà chỉ cần một căn thanh tịnh thì năm căn đều thanh tịnh cả.

Nếu ai có duyên với Thiệt Căn thì tu tập ngay Thiệt Căn. Tu tập Thiệt Căn tức là tu tập trong sự ăn uống. Ăn dở không chê, ăn ngon không khen, chỉ biết ăn để sống, để tu tập mà thôi. Vì thế người tu tập Thiệt Căn là người ăn uống không phi thời. Ngày chỉ một bữa cơm để sống mà thôi, dù là người cư sĩ tại gia nhưng vẫn sống như người tu sĩ xuất gia.

Tại sao họ lại sống như vậy được? Chỉ vì họ thấu suốt thực phẩm là những thứ bất tịnh. Nhìn vào thực phẩm, người không trí tuệ thấy nó ngon ngọt béo là một pháp cực ác sanh ra.

2). Ngũ Lực gồm có: 1- Tín lực; 2- Tấn lực; 3- Niệm Lực; 4- Định lực; 5- Tuệ lực.

3). Tứ Vô Lượng Tâm gồm có: 1- Từ Vô Lượng Tâm; 2- Bi Vô Lượng Tâm; 3- Hỷ Vô Lượng Tâm; 4- Xả Vô Lượng Tâm.

4). Tứ Bất Hoại Tịnh gồm có: 1- Niệm Phật; 2- Niệm Pháp; 3- Niệm Tăng; 4- Niệm Giới.

5). Tứ Chánh Cần gồm có: 1- Ngăn ác; 2- Diệt ác pháp; 3- Sinh thiện; 4- Tăng trưởng thiện pháp.

6). Tứ Niệm Xứ gồm có: 1- Quán thân; 2- Quán thọ; 3- Quán tâm; 4- Quán pháp.

7). Thất Giác Chi gồm có: 1- Niệm Giác Chi; 2- Tinh Tấn Giác Chi; 3- Khinh An Giác Chi; 4- Hỷ Giác Chi; 5- Định Giác Chi; 6- Xả Giác Chi; 7- Trạch Pháp Giác Chi.

8). Tứ Như Ý Túc gồm có: 1- Dục Như Ý Túc; 2- Tinh Tấn Như Ý Túc; 3- Định Như Ý Túc; 4- Tuệ Như Ý Túc.

            Bản tóm lược trên đầy đủ Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo.

           .                                                                                               .

(Bài tiếp theo: NGŨ CĂN; NGŨ LỰC. •  KINH BA MƯƠI BẢY PHÁP TRỢ ĐẠO (07.01.2014)

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Chánh kiến  
     •  THOÁT BIỂN KHỔ SINH TỬ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (15.11.2017)  
     •  TÌNH YÊU HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH. Thầy Thích Bảo Nguyên. (06.11.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ 2. Thầy Thích Bảo Nguyên. (04.11.2017)  
     •  QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (31.10.2017)  
     •  Ý NGHĨA XUẤT GIA. Thầy Thích Bảo Nguyên. (24.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ NIẾT BÀN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (21.10.2017)  
     •  TRUNG ĐẠO LÀ DIỆT KHỔ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (17.10.2017)  
     •  TINH TẤN DIỆT PHIỀN NÃO. Thầy Thích Bảo Nguyên (08.10.2017)  
     •  PHÁP TU TỨ CHÁNH CẦN. Thầy Thích Bảo Nguyên. (05.10.2017)  
     •  PHÁP TU NIỆM PHẬT. Thầy Thích Bảo Nguyên. (27.09.2017)  
     •  THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (25.09.2017)  
     •  CHÁNH NIỆM THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (18.09.2017)  
     •  ĐỘC CƯ THIỀN XẢ TÂM. Thầy Thích Bảo Nguyên. (12.09.2017)  
     •  LÒNG HIẾU KÍNH CHA MẸ. Thầy Thích Bảo Nguyên. (07.09.2017)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 40 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)