DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 1  
  Số lượt truy cập: 26996  
     
  Untitled Document
   
 
  Nghiên cứu – Đối luận
• ĐẠO PHẬT LÀ GÌ? CÂU HỎI HAY, MỌI NGƯỜI CÙNG ĐÁP. Viên Hạnh  
Cập nhật ngày : 04.07.2013 (Đã đọc : 5743 lần )

Nhân đọc sách “HỎI HAY, ĐÁP ĐÚNG” (Tác giả: Bhikkhu Shravasti Dhammika. Dịch giả: Đại đức Thích Nguyên Tạng). Thấy rằng HỎI thì có hay, nhưng ĐÁP thì chưa hoàn toàn đúng, mới nảy sinh ý biện: “CÂU HỎI HAY, MỌI NGƯỜI CÙNG ĐÁP”. Và thế là có những câu trả lời song đôi cùng tác giả Bhikkhu Shravasti Dhammika.

Đây chỉ là những hiểu biết hạn cuộc của một phàm phu đang cầu học tri kiến giải thoát, nếu được quý độc giả có ý kiến hoàn thiện hơn thì thật hạnh phúc.


CÂU HỎI HAY, MỌI NGƯỜI CÙNG ĐÁP

Đạo Phật là gì?

Hỏi 1: Đạo Phật là gì?

Bhikkhu Shravasti Dhammika (BSD): Danh từ Đạo Phật (Buddhism) xuất phát từ chữ "Budhi" nghĩa là "tỉnh thức" và như vậy đạo Phật là triết học của sự tỉnh thức. Nền triết học này khởi nguyên từ một kinh nghiệm thực chứng của Ngài Sĩ-Đạt-Đa Cồ-Đàm, được biết như một vị Phật, đã tự mình giác ngộ ở tuổi ba mươi sáu. Đến nay Đạo Phật đã có mặt trên 2500 năm và có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Hàng trăm năm về trước, Đạo Phật đã chính thức là một nền triết học của Á châu, tuy nhiên ngày nay đã phát triển và có tín đồ ở khắp châu Âu và châu Mỹ.

Viên Hạnh (VH): Thái tử Siddhãrtha Gautama sau khi tu hành chứng đạo đã sáng lập ra đạo Phật (trước Ngài không có đạo Phật), từ đó mới có đạo Phật trên đời. Để biết Đạo Phật Là Gì? Chúng ta cần hiểu: ĐạoCon Đường, PhậtGiác Ngộ (Tỉnh Thức, Giải Thoát). Như vậy Đạo Phật là Con Đường Giác Ngộ (Con Đường đi đến Giác Ngộ hay Con Đường Giải Thoát).  

Hỏi 2: Như vậy, Đạo Phật có phải là một triết học không?

BSD: Danh từ triết học - philosophy - bắt nguồn từ hai chữ "philo" nghĩa là "tình thương" và "sophia" nghĩa là "trí tuệ". Vậy triết học là tình thương của trí tuệ hoặc tình thương và trí tuệ. Cả hai ý nghĩa nầy đều diễn tả một đạo Phật toàn bích. Đạo Phật khuyên dạy con người nên cố gắng phát triển khả năng tri thức của mình đến chỗ cùng tột để có thể hiểu biết một cách rõ ràng. Đạo Phật cũng dạy chúng ta làm lớn mạnh lòng từ bi và lòng nhân ái để mình có thể trở thành một người bạn chân thành đối với tất cả chúng sanh. Vì thế Đạo Phật là một triết học, nhưng không chỉ là một triết học mà là một triết học siêu việt.

VH: Nếu nói Triết học là Tình Thương và Trí Tuệ thì đạo Phật là một Triết học vượt lên trên mọi Triết học. Bởi đạo Phật thể hiện Tình Thương yêu và Trí Tuệ siêu việt mà không một Triết học nào sánh kịp.

Nếu nói “Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ. Triết học được phân biệt…” (Wikipedia). Thì chúng ta hãy thận trọng xem xét, đạo Phật không phải là một “Triết học nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người…” như vậy. Đạo Phật hiểu rõ con người và vũ trụ như thật nên đạo Phật hướng mỗi người hãy tự thanh tịnh thân tâm mình để có trí tuệ nhận biết thế giới. Đạo Phật là một Chân Lý được mỗi người thực hành và chứng nghiệm, không phải là một Triết lý suông.    

Hỏi 3: Đức Phật là ai?

BSD: Vào năm 624 trước Tây Lịch, một hoàng nhi đã ra đời tại một vương quốc thuộc miền Bắc Ấn Độ. Vị hoàng nhi ấy đã lớn lên trong nhung lụa và xa hoa, nhưng cuối cùng sớm nhận ra rằng tiện nghi vật chất và sự yên bình của thế gian không đủ để bảo đảm hạnh phúc. Chàng đã xúc động sâu xa bởi những cảnh khổ đau mà chàng đã thấy ở khắp mọi nơi, và quyết tâm tìm một lời giải đáp đưa đến hạnh phúc cho nhân loại. Năm hai mươi chín tuổi, chàng từ giã vợ và con, và tìm học với các bậc đạo sư vĩ đại đương thời. Các vị này đã dạy cho chàng rất nhiều nhưng không có người nào thật sự biết rõ được nguyên nhân khổ đau của kiếp người và phương cách vượt thoát khổ đau. Cuối cùng, sau sáu năm tu học và hành thiền, chàng đã đạt được một kinh nghiệm mà tất cả mọi phiền não vô minh được đoạn trừ và Ngài đã hoát nhiên giác ngộ. Kể từ ngày ấy, Ngài được tôn xưng là Phật-đà (Buddha), một bậc Giác Ngộ. Ngài tiếp tục ở lại thế gian trong 45 năm nữa, chu du khắp miền Bắc Ấn độ để truyền dạy cho mọi người những gì mà ngài đã chứng ngộ. Lòng từ bi và đức tính kham nhẫn của Ngài là một sự kỳ diệu đã khiến cho hàng ngàn người theo làm đệ tử của Ngài. Ở tuổi tám mươi, tuy già và bệnh, nhưng vẫn hạnh phúc và thanh thản, cuối cùng Ngài đã viên tịch.

VH: Đức Phật là một con người bằng xương bằng thịt, cũng được cha mẹ sinh ra từ trong dục bất tịnh và Ngài cũng phải trải qua mọi khổ đau như tất cả chúng ta.

“Năm 623 trước Công nguyên, ti Ca ty la v (Kapilavatthu), bên ranh gii Ấn Đ ca x  Nepal ngày nay, và trong vườn Lăm-tỳ-ni (Lumbini), dưới gc cây Vô Ưu, có h sinh mt hoàng t v sau tr thành v giáo ch vĩ đi nht trên thế gian. Cha hoàng t là đc vua Tnh Phn (Suddhodana) thuc quý tc Thích Ca (Sakya) và m là hoàng hu Ma-Da (Mah Maya). (Lịch Sử Đức Phật)

Năm 29 tuổi, từ bỏ ngai vàng quyền lực, vợ đẹp con xinh, Thái tử quyết tâm đi tìm chân lý cho loài người. Trải qua 6 năm trời gian khổ, tu tập đủ loại pháp môn của ngoại đạo đương thời nhưng không có kết quả, cuối cùng Ngài tự mình tìm ra pháp môn Thân Hành Niệm và tu tập trong vòng 49 ngày thì hoàn mãn (chứ không phải “hoát nhiên đại ngộ” như người sau bịa đặt). Với trí tuệ siêu việt nhận biết con người và vạn pháp trong vũ trụ như thật, Ngài truyền giáo và thành lập Giáo đoàn Tăng già Khất sĩ mà sau này gọi là đạo Phật. Từ đó Ngài được mọi người tôn xưng là Đức Phật.   

Hỏi 4: Đức Phật vô trách nhiệm chăng khi Ngài rời bỏ vợ con của mình?

BSD: Điều đó không dễ dàng chút nào khi Đức Phật rời bỏ gia đình. Ngài đã phải lo lắng và do dự trong một thời gian dài trước khi quyết định ra đi. Lúc đó, Ngài có một sự chọn lựa, hoặc là hiến dâng đời mình cho gia đình, hoặc cho thế gian. Cuối cùng, với lòng từ bi rộng lớn đã khiến ngài hy sinh đời mình cho thế gian, và cả thế gian đều được lợi lạc từ sự hy sinh của Ngài. Do vậy, đó không phải là vô trách nhiệm. Có thể nói đó là một sự hy sinh đầy ý nghĩa nhất từ trước đến nay.

VH: Đức Phật không vô trách nhiệm khi rời bỏ hoàng cung và gia quyến để đi tìm chân lý. Nguyện vọng của Ngài muốn ra đi thì cả hoàng tộc và vợ Ngài đều rõ. Ngài ra đi trong khi vợ và con Ngài được hoàng tộc chăm lo chu đáo, đầy đủ. Như vậy không thể nói Ngài vô trách nhiệm với vợ con.

Tuy nhiên, trước khi tu hành giác ngộ, Ngài cũng còn bị vô minh che lấp như chúng ta nên việc Ngài đã làm khổ vợ con và cha mẹ cũng như hoàng tộc là điều rõ ràng. Chính “nhân” này đã tạo “quả” cho Ngài phải trải bao đắng cay khổ cực trong suốt 6 năm trời. Cuối cùng Ngài đã tìm ra Chân Lý, là suối nguồn an lạc vô tận cho con người và tất cả các loài hữu tình.

Hỏi 5: Đức Phật đã nhập diệt thì làm sao Ngài có thể giúp đỡ chúng ta?

BSD: Ông Faraday, người phát minh ra điện, đã mất nhưng những gì ông phát minh vẫn còn có ích cho chúng ta. Ông Luis Pasteur, người tìm ra phương pháp điều trị nhiều bệnh tật, đã qua đời, nhưng các khám phá y khoa của ông vẫn cứu được nhiều mạng sống. Ông Leonardo da Vinci, người sáng tạo ra những kiệt tác nghệ thuật, cũng đã khuất bóng, nhưng tác phẩm của ông vẫn đem lại nhiều hứng khởi và niềm vui cho mọi người. Những thánh nhân và anh hùng đã từ giã cõi đời hàng thế kỷ nhưng khi chúng ta đọc lại những kỳ tích và thành tựu của họ, chúng ta vẫn có nhiều hứng khởi để noi theo những gì họ đã làm. Đúng thế, Đức Phật đã diệt độ, nhưng 2500 năm sau lời giáo huấn của Ngài vẫn giúp được nhân loại, gương lành của Ngài vẫn tạo nhiều cảm hứng cho mọi người, lời dạy của Ngài vẫn có thể cải tạo được cuộc sống. Chỉ có Đức Phật mới có thể có một tiềm lực thu hút như thế qua nhiều thế kỷ sau khi Ngài đã nhập diệt.

VH: Đúng là một khó khăn lớn cho người tu khi thực hành theo giáo pháp của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt. Chẳng thế mà suốt hơn 2500 năm sau, không có ai nối tiếp được bước chân Ngài. Khi thăng, khi trầm nhưng Phật giáo các hệ phái phát triển 2 dòng Nam tông và Bắc tông thi đua nhau triển khai Chân lý đạo Phật thành một mớ Triết lý suông, vô tình đã hủy báng và tiêu diệt đạo Phật. Giáo lý của Ngài còn đó (kinh Nikaya tạng Pàli) nhưng không có người hành. Tu sĩ về sau đã lồng ghép đủ loại triết lý Bà-la-môn và các triết lý khác tổng hợp thành Phật giáo nên con đường tu hành mất dấu.

Ngày nay đức Trưởng Lão Thích Thông Lạc đã quyết tâm dồn hết tâm lực của mình tu tập theo đúng giáo lý Phật dạy (kinh Nikaya) nên Ngài đã thành công mỹ mãn. Ngài đã chứng đạt và có đầy đủ năng lực như đức Phật xưa. Ngài dạy rằng giáo lý thực sự của Phật có một giá trị to lớn, hoàn hảo dành cho mọi người tu hành. Mỗi người hãy giữ tâm “Bất Động, Thanh Thản, An lạc và Vô Sự” thì nhận thấy rõ ràng từ trường năng lực của đức Phật vẫn thường xuyên trợ giúp chúng ta.  

Hỏi 6: Đức Phật có phải là một vị thần linh không?

BSD: Không, Ngài không phải là một vị thần linh (god). Ngài cũng không tuyên bố rằng mình là thần linh, là con của thần linh, hoặc ngay cả là một sứ giả của thần linh. Ngài là một con người đã tự toàn thiện mình, và dạy rằng nếu chúng ta noi theo gương Ngài, chúng ta cũng có thể tự hoàn thiện được như Ngài.

VH: Không. Đức Phật không phải là một vị thần linh. Được sinh ra, Ngài cũng chỉ là một con người bình thường như tất cả mọi người. Nhưng Ngài là người có năng lực và trí tuệ siêu việt là do nghị lực phi thường và khéo biết tu tập, tự thanh tịnh thân tâm mà thành. Ngài dạy rằng tất cả mọi người đều có thể tu tập để trở nên người hoàn thiện như Ngài. 

Hỏi 7: Nếu Đức Phật không phải là thần linh, tại sao người ta thờ cúng Ngài?

BSD: Có nhiều loại thờ cúng khác nhau, khi người ta thờ một vị thần, họ tán thán cung kính và cúng dường vị ấy, để cầu xin ân sủng. Họ tin tưởng rằng vị thần linh ấy sẽ nghe thấy sự tán dương, tiếp nhận sự cúng dường và đáp ứng lại lời cầu xin của họ. Người phật tử không theo kiểu thờ cúng này. Cũng có các loại thờ cúng khác như khi chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với một người nào đó hay điều gì khiến chúng ta ngưỡng mộ. Khi vị thầy giáo bước vào lớp, chúng ta đứng lên; khi gặp một viên chức cao cấp, chúng ta bắt tay; khi một bài quốc ca được trổi lên, chúng ta nghiêm chào. Đó là tất cả những cử chỉ cung cách tôn kính tỏ bày lòng khâm phục của chúng ta đối với người hay vật. Cách thờ cúng theo Phật giáo là thực hành. Một pho tượng Phật ngồi với bàn tay nhẹ nhàng trong mảnh y và nụ cười từ ái nhắc nhở chúng ta cố gắng phát triển sự an lạc và yêu thương trong mỗi chúng ta. Mùi thơm của hương trầm nhắc nhở chúng ta về sự ảnh hưởng của đức hạnh lan tỏa khắp nơi, ngọn đèn nhắc nhở chúng ta đến ánh sáng của hiểu biết, và những bông hoa sớm tàn úa nhắc cho chúng ta lẽ vô thường. Khi đảnh lễ cuối đầu, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Phật về những lời dạy của Ngài. Đó là phương cách thờ cúng của người Phật tử.

VH: Đức Phật đã dạy:

              "T mình, làm điu ác,
              T mình làm nhim ô,
              T mình không làm ác,
              T mình làm thanh tnh.
              Tnh, không tnh t mình,
              Không ai thanh tnh ai!" (Kinh Pháp Cú).

Như vậy đức Phật khẳng định rằng Ngài không phải là một thần linh có thể cứu vớt, ban phước lành hay giáng họa cho ai. Mỗi người hãy tự mình cố gắng thực hành để thanh tịnh thân tâm. Người ta thờ cúng Ngài với tâm tham cầu thì vô ích. Những lễ nghi thờ cúng quá rình rang và tốn kém là sự lãng phí không cần thiết, đó là việc làm của những người còn u mê.

Người phật tử thuần thành tôn kính đức Phật bởi sự vĩ đại và cao thượng của Ngài được thể hiện bằng niềm tin chân chánh và nỗ lực thực hành theo giáo pháp mà Ngài đã dạy. “Người thực hành đúng theo Giáo Huấn của Như Lai nhất là người sùng kính Như Lai nhất”, đó là lời Phật dạy.  

Hỏi 8: Nhưng tôi nghe người ta nói rằng nhiều phật tử vẫn thờ cúng thần tượng?

BSD: Những lời phát biểu như vậy chỉ phản ảnh sự hiểu lầm của người đang hành trì. Từ điển định nghĩa từ "idol" là "một hình ảnh hay một pho tượng được tôn thờ như một thần linh" (an image or statue worshipped as a god). Như chúng ta đã biết, người phật tử không bao giờ tin rằng Đức Phật là một vị thần linh. Vậy làm sao người phật tử có thể tin rằng một khối gỗ hay một mảng kim loại kia lại là một vị thần?

Mỗi tôn giáo đều dùng một biểu tượng nào đó để bày tỏ quan điểm và niềm tin của riêng họ. Trong Đạo Lão (Taoism), Âm dương được dùng để làm biểu tượng hài hòa và đối kháng. Đạo Sikh (1), thanh gươm được xem là biểu tượng cho sự đấu tranh tinh thần. Đạo Cơ-đốc (Christianity), con cá dùng làm biểu tượng cho sự hiện hữu của Chúa và cây Thánh giá dùng làm biểu trưng cho sự hy sinh của Chúa. Và Phật giáo, tượng Phật được xem như những biểu tượng của sự hoàn thiện nhân cách con người. Tượng Phật cũng nhắc nhở ta về tính nhân bản trong giáo lý nhà Phật. Thật vậy, Phật giáo luôn xem con người là trung tâm chứ không phải là thần linh, điều đó nhắc nhở chúng ta phải tìm sự toàn hảo và hiểu biết ở bên trong chứ không phải vẻ bề ngoài của hình tượng. Vì thế nói rằng người phật tử tôn thờ hình tượng là không đúng.

VH: Xin dẫn lời đại đức Nãrada để trả lời câu hỏi này: “Người phật tử không chp nhn đc tin mù quáng, vy không có mt hình thc tôn sùng l bái hay thờ cúng nhng thn tượng tương t. Người pht t không cu xin mt ơn hu vt cht hay tinh thn khi đnh l tượng Pht, mà ch bày t lòng tôn kính ngưỡng m ca mình đến lý tưởng siêu vit mà bc tượng tiêu biu. Người pht t quì lạy trước tượng Pht, không phi dâng lên bc tượng bng đá, bng g hay bng giy, mà dâng lên đc Pht qua bc tượng tượng trưng. Quì lạy là biu hin ra ngoài lòng biết ơn vô hn.

Những người cầu nguyện, van xin không chỉ là vô ích mà còn là một thái độ nô lệ tinh thần. Thay vì đọc kinh cầu nguyện, đức Phật khuyên nhủ chúng ta nên cố gắng hành thiện và ghép mình vào giới luật, tự kiểm soát, tự thanh lọc tâm và giác ngộ”. (Đức Phật và Phật pháp – Nãrada).

Hỏi 9: Tại sao người ta đốt giấy vàng bạc và làm những chuyện lạ trong chùa?

BSD: Nhiều việc thấy lạ nếu ta không tìm hiểu về chúng. Tốt hơn nên gạt bỏ những chuyện lạ ấy mà nên cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, trong thực tế, đôi khi người Phật tử đã áp dụng những điều mê tín dị đoan và hiểu lầm hơn là lời dạy của Phật. Và những việc hiểu lầm như vậy không phải chỉ riêng ở Phật giáo mà thỉnh thoảng cũng được thấy ở những tôn giáo khác. Đức Phật đã dạy rất rõ ràng và chi tiết và nếu không hiểu giáo lý của Ngài thì không thể đổ lỗi cho Ngài.

Có lời dạy rằng: “Nếu một người đau khổ vì bệnh hoạn mà không chịu để điều trị, thậm chí người ấy có người thầy thuốc trong tầm tay. Đó không phải là lỗi của người thầy thuốc…” Cũng vậy, nếu một người bị hành hạ và đau khổ bởi phiền não mà không tìm sự giúp đỡ của Đức Phật, thì đó cũng không phải là lỗi của Ngài.-- (JN 28-9)

Không phải Phật giáo mà bất cứ tôn giáo nào cũng không thể giúp cho họ nếu bản thân họ không thực hành đúng pháp. Nếu bạn muốn biết rõ ràng và chính xác về chân lý của Đạo Phật, thì hãy đọc những lời dạy của Phật hoặc học hỏi với người hiểu đúng giáo lý này.

VH: Đốt giấy vàng bạc và làm những chuyện lạ trong chùa là việc làm của những người mê tín dị đoan, là công việc của những người lười biếng tu tập, ham hưởng thụ nên bày vẽ ra đủ chuyện để hù dọa người đời kém hiểu biết tin theo. Đạo Phật không dạy làm những điều nhảm nhí như vậy. 

Hỏi 10: Nếu Phật giáo quá tốt đẹp như vậy, tại sao vẫn còn nhiều quốc gia nghèo khổ?

BSD: Ý bạn muốn nói nghèo khổ về kinh tế? Đó là sự thật, vì vẫn còn nhiều quốc gia Phật giáo chưa phát triển về mặt này. Nhưng nếu nghèo mà ý bạn muốn ám chỉ về "phẩm chất của cuộc sống" thì có lẽ nhiều nước theo Phật giáo lại rất giàu. Chẳng hạn nước Mỹ, một quốc gia cường thịnh về kinh tế và quyền lực, nhưng lại là một trong những quốc gia có mức độ tội phạm cao nhất thế giới, hàng triệu người già bị con cái lãng quên và chết trong cô độc tại các viện dưỡng lão; nạn bạo lực ở trong gia đình và lạm dụng tình dục trẻ em là vấn đề nóng bỏng. Cứ ba cặp cưới nhau có một cặp ly dị; sách báo đồi trụy dễ dàng tìm thấy. Vì vậy, giàu theo nghĩa có tiền nhưng lại nghèo về "phẩm chất cuộc sống". Bây giờ chúng ta thử quay sang Miến Điện, một quốc gia có nền kinh tế lạc hậu, nhưng cha mẹ được con cái tôn vinh và kính trọng; tỉ lệ tội phạm tương đối thấp; vấn đề ly dị và tự tử hầu như không nghe thấy; việc bạo lực trong gia đình, lạm dụng trẻ em, sách báo kích dục và nạn mãi dâm không thể có. Một nền kinh tế chậm tiến nhưng lại có một nền tảng đạo đức xã hội cao hơn một quốc gia như Hoa kỳ. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn nhìn thấy những quốc gia Phật giáo theo cái nghĩa kinh tế như vậy, thì một trong những quốc gia giàu có nhất và có nền kinh tế năng động nhất thế giới hiện nay là Nhật Bản, nơi có 93% dân số là tín đồ theo Phật giáo.

VH: Sự phân chia giàu nghèo của các quốc gia trên hành tinh tùy thuộc vào nhiều yếu tố mà quốc gia đó được thụ hưởng hay phải gánh chịu. Đó cũng là điều phù hợp duyên nhân quả - luân hồi đang vận động chuyển biến không ngừng nghỉ. Không riêng người phật tử mà tất cả mọi người đều là công dân của thế giới, các quốc gia giàu hay nghèo không có giới hạn đối với mọi người. Mục đích chính của những người con Phật là hướng đến sự giác ngộ giải thoát. Tuy nhiên, khi chưa được giải thoát, nếu tạo nghiệp thiện nhiều hay nghiệp ác nhiều thì tất cả mọi người (phật tử hay không phật tử) đều sẽ tiếp tục tái sanh trong những quốc gia giàu có hay nghèo cùng, tương ưng với những nghiệp họ đã tạo ra.

Để tiến tới toàn bộ các quốc gia trên hành tinh đều giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc là một điều hết sức khó khăn.     

Hỏi 11: Tại sao bạn không thường nghe người phật tử làm công tác từ thiện xã hội?

BSD: Có lẽ người phật tử không cảm thấy cần thiết phải khoe khoang về những điều tốt của họ. Nhiều năm trước đây ông Nikkyo Niwano (2), vị lãnh đạo Phật giáo Nhật Bản đã được trao giải thưởng Templeton qua việc ông vận động liên kết hòa hợp tôn giáo. Tương tự, một tăng sĩ người Thái đã nhận giải thưởng Magsaysay cho chiến dịch bài trừ tệ nạn ma túy. Năm 1987, Thượng tọa Kantayapiwat, người Thái Lan, cũng nhận một giải thưởng Nhi đồng Hòa Bình của Na Uy cho công việc từ thiện của ngài trong nhiều năm giúp đỡ trẻ bụi đời ở vùng nông thôn. Và hiện nay, các hội đoàn Phật giáo phương Tây đang thực hiện một số công tác từ thiện ở các vùng nông thôn Ấn Độ, họ đang xây dựng trường học, Trung tâm điều trị tâm thần thiếu nhi, trạm xá và những khu công nghiệp nhẹ. Người phật tử thấy rằng việc giúp đỡ cho người khác như là một pháp môn tu tập của họ, nhưng họ cho rằng công việc ấy nên thực hiện trong thầm lặng, không cần phô trương. Chính vì thế mà bạn không nghe thấy nhiều về các hoạt động từ thiện của họ.

VH: Công tác từ thiện xã hội thì người cư sĩ phật tử có bổn phận và trách nhiệm phải làm và đã làm rất tốt khi thuận duyên.

Đối với tu sĩ thuần thành của đạo Phật, người đã cắt ái ly gia, mỗi ngày xin ăn một bữa thì không có vật chất gì để đi làm từ thiện. Những gì họ ban tặng cho đời là tấm gương phạm hạnh nghiêm trang, họ trải tình thương yêu cùng khắp đến mọi người. Ban cho mọi người sự tự tin, không hận thù và không sợ hãi là “công tác từ thiện” lớn nhất không có gì sánh bằng.

Người tu sĩ đạo Phật đi làm công tác từ thiện bằng cứu trợ tiền bạc, thức ăn, thuốc men… và các phẩm vật khác thì không phải là người tu sĩ đạo Phật. Đó là sự lừa đảo gian trá, bởi người đi xin biết vừa đủ, không làm ra tài sản lấy gì đem làm từ thiện? Ngày xưa đức Phật và các du tăng khất sĩ không có đi làm công tác từ thiện bao giờ.

Hỏi 12: Tại sao có nhiều tông phái khác nhau trong Phật giáo?

BSD: Có nhiều loại đường khác nhau: đường vàng, đường trắng, đường kết tinh, đường cục, đường cát, đường phèn... nhưng tất cả chỉ là đường và chỉ có một vị ngọt. Nó được sản xuất từ nhiều hình thức khác nhau để nó có thể sử dụng nhiều cách khác nhau. Phật giáo cũng thế, Phật giáo Nguyên thủy, Thiền tông, Tịnh độ tông, Du già tông, Mật tông nhưng tất cả đều là Phật giáo và đều có chung một vị - vị giải thoát.

Phật giáo quả thật đã phát triển qua nhiều hình thức khác nhau để nó hiện hữu và thích ứng với những nền văn hóa khác nhau. Qua nhiều thế kỷ Phật giáo có thể tồn tại phù hợp với mọi thế hệ. Đứng trên phương diện bề mặt, Phật giáo dường như có khác nhau, nhưng tâm điểm dị biệt ấy vẫn là giáo lý Tứ đế và Bát chánh đạo. Tất cả những tôn giáo chính, kể cả Phật giáo, đã từng bị chia ra nhiều tông phái khác nhau. Như những tôn giáo chính khác, Phật giáo bao gồm những hình thái và tông phái. Những sự khác nhau của các tông phái ấy không bao giờ đưa tới xung đột nhau, và cho tới nay chưa bao giờ biểu lộ sự thù địch với nhau, họ đến với nhau ở những chùa viện khác và cùng cầu nguyện với nhau. Lòng bao dung, và hiểu nhau như thế quả thật là hiếm thấy.

VH: Sự phân chia ra nhiều tông phái khác nhau trong Phật giáo có nhiều nguyên nhân. Sau khi đức Phật nhập diệt không bao lâu, đạo Phật bị phân chia ra thành nhiều bộ phái. Cho đến ngày nay sự hiện diện của 2 hệ Phật giáo Nam tông (Thượng Tọa Bộ - Tiểu Thừa) và Bắc tông (Đại Chúng Bộ - Đại Thừa) là đại biểu cho những nguyên nhân lớn. Một phái muốn giữ nguyên vẹn những lời dạy chân chánh của đức Phật, một phái muốn phát triển hòa đồng những triết lý của ngoại đạo xen chung với những lời Phật dạy. Trải dài theo thời gian, đến nay cả 2 hệ phái lớn này đã sinh ra rất nhiều tông phái nhỏ nhưng không có tông nào còn giữ được những lời Phật dạy nguyên thủy. Thậm chí những lời dạy nguyên thủy của Phật còn bị cấm học và tu theo (ở một số tông) vì giới thánh quá thanh tịnh nên ít người theo được.

Hầu hết các tông phái Phật giáo ngày nay như Thiền, Tịnh, Mật, Yoga… (Bắc tông) cho đến Minh Sát, Khất sĩ,… (Nam tông) đều triển khai giáo lý phát triển của các thầy Tổ đời sau. Còn giáo lý của đức Phật dạy thì bị vùi sâu vào quên lãng, chỉ còn được giảng dạy rất ít.

Vì sao các tông phái không dẫn đến sự xung đột nhau, bởi vì dưới danh nghĩa Phật giáo, họ hòa chung lợi ích. Các thầy Tổ và tu sĩ thỏa lòng phá nát, bẻ vụn giới luật, sống đời sung túc vương giả trên mồ hôi nước mắt của đàn na thí chủ. Thật tội nghiệp cho những người cư sĩ, ráng sức cúng dường mà lầm lạc không đúng pháp nên chẳng có phước báo gì. Và thương cho những ai, một đời đã từ bỏ tài sản, gia đình… đến với đạo lại nhận những tài sản khác lớn hơn (Danh, lợi, sự cung kính…) rồi chẳng chịu tu hành gì cả. Kết quả tu tập chẳng đạt được gì, lại mang nợ đàn na biết bao giờ trả hết. Thật uổng phí một đời tu.    

Hỏi 13: Bạn luôn nghĩ tốt về Đạo Phật. Tôi cho rằng bạn nghĩ Đạo của bạn đang theo là đúng còn các đạo khác là sai.

BSD: Không có một phật tử nào hiểu lời Phật dạy mà lại nghĩ các tôn giáo khác là sai. Không một ai có tâm hồn cởi mở lại để tâm phán xét các tôn giáo khác. Việc trước tiên bạn để tâm nghiên cứu những tôn giáo khác là để biết có bao nhiêu điểm tương đồng.Tất cả các tôn giáo đều thừa nhận rằng đời sống con người hiện tại không được thỏa mãn. Tất cả đều tin rằng nếu hoàn cảnh của con người phải cải thiện thì cách cư xử và quan điểm của họ cần phải được thay đổi. Tất cả đều truyền dạy về một nền đạo đức học về yêu thương, nhân ái, kiên nhẫn, rộng lượng và có trách nhiệm với xã hội, và tất cả đều chấp nhận có sự hiện hữu trong một vài hình thức tuyệt đối.

Họ sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhiều tên gọi khác nhau và nhiều biểu tượng khác nhau để mô tả và giải thích những sự việc này. Và chỉ khi nào họ bám chặt vào đường hướng của mình bằng tâm lượng hẹp hòi để nhìn sự việc thì sự ích kỷ, ngạo mạn và tự tôn liền phát sinh.

Cứ tưởng tượng một người Anh, một người Pháp, một người Trung quốc và một người Nam Dương. Tất cả đều nhìn vào một cái ly nước. Người Anh nói "Đây là cái cup ", người Pháp nói "Không phải, nó là cái tasse ", người Hoa bảo "cả hai ông đều sai hết, nó chính là pei". Và người Nam Dương cười lớn nói rằng: "Các anh ngớ ngẩn làm sao, nó là cái cawan". Người Anh lật quyển từ điển ra và chỉ cho các người kia "Tôi có thể chứng minh đây là cái cup, quyển từ điển của tôi đã viết như thế". Người Pháp cãi lại "từ điển của tôi nói rõ đó là tasse. Người Hoa lớn tiếng cãi lại "Từ điển của chúng tôi mới chính xác, vì nó có hàng ngàn năm nay rồi, lâu hơn tất cả các từ điển của các anh, vả lại người nói tiếng Hoa nhiều hơn người nói ngôn ngữ của mấy anh, vì thế tôi nói nó là pei là chính xác nhất". Trong lúc những người này đang cãi cọ và tranh luận, một người phật tử bước tới bưng lấy cái ly nước lên uống. Sau khi vị ấy uống xong, vị ấy nói: "Dù các anh có gọi nó là cup, tasse, pei hay cawan, mục đích của cái ly là dùng để uống nước, các anh hãy chấm dứt tranh luận và hãy uống nước để bớt cơn khát của các anh đi!". Đây là thái độ của người phật tử đối với các tôn giáo khác.

VH: Đạo Phật không chê bai trách cứ bất cứ tôn giáo nào sai hay đúng. Đạo Phật cũng không tự nhận rằng đạo của mình đúng, mà thừa nhận đạo của mình là thực tiễn. Với trí tuệ siêu việt vượt không gian và thời gian, đức Phật là bậc minh triết (không còn vô minh), Ngài chỉ dạy rằng những ai cố gắng tận lực, dũng mãnh thực hành theo đúng những lời dạy của Ngài sẽ trở nên bậc hoàn thiện, thoát khỏi khổ đau sanh tử luân hồi.

Những tôn giáo khác cũng với mục đích nhằm hướng đến sự tốt đẹp cho con người, nhưng những triết lý dạy dỗ đều đưa con người tới sự mong cầu dục lạc ngày càng cao hơn. Do vậy kết quả đạt được đi ngược với mục đích của họ mong mỏi. Chỉ vì họ vẫn còn vô minh.  

Hỏi 14: Đạo Phật có phải là khoa học không?

BSD: Trước khi trả lời câu hỏi này, tốt nhất chúng ta hãy tìm hiểu về định nghĩa của từ khoa học, theo từ điển giải thích khoa học là "Kiến thức có thể được hình thành theo một hệ thống, cái tuỳ thuộc vào sự trắc nghiệm các dữ kiện và xác nhận được quy luật tự nhiên, một phần tùy thuộc vào những gì được nghiên cứu chính xác".

Trong Phật giáo có nhiều phương diện không phù hợp với định nghĩa này. Nhưng giáo lý cốt lõi của Đạo Phật, Tứ Diệu Đế (Four Noble Truths) thì hẳn đã phù hợp. Chân lý thứ nhất khổ đau là một kinh nghiệm và có thể xác định được. Chân lý thứ hai chỉ rõ rằng đau khổ có nguyên nhân tự nhiên của tham ái mà nó có thể định nghĩa, trải qua và đo lường được. Không cần cố gắng giải thích khổ đau theo thuật ngữ, quan điểm siêu hình hay huyền hoặc. Chân lý thứ ba, chấm dứt khổ đau không nương nhờ vào thần linh tối cao, vào niềm tin hay cầu nguyện mà đơn giản chỉ là loại bỏ nguyên nhân của khổ đau. Đó là việc hiển nhiên. Chân lý thứ tư, con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, một lần nữa cũng không có gì siêu hình mà tùy thuộc vào việc thực hiện theo phương pháp đặc biệt. Và hơn nữa thái độ phải cởi mở để xét nghiệm.

Phật giáo không thừa nhận quan điểm về một đấng cao cả, giống như khoa học và giải thích nguồn gốc và sự vận hành của vũ trụ theo quy luật tự nhiên. Hẳn những điều này là chứng minh theo tinh thần khoa học. Một lần nữa, chúng ta lại thấy tinh thần khoa học trong Phật giáo càng rõ ràng hơn qua lời khuyên của Đức Phật, rằng chúng ta không nên tin tưởng một cách mù quáng mà ngược lại phải đặt vấn đề, tìm hiểu và thẩm tra, nhờ vào kinh nghiệm của chính mình rồi mới tin, có như thế tính chất khoa học mới được rõ ràng.

Đức Phật dạy: "Đừng tin tưởng theo huyền bí hay truyền thống. Đừng tin tưởng theo tin đồn đãi hay kinh điển, đừng tin tưởng theo lời đồn hay những gì hợp lý, đừng tin tưởng theo khuynh hướng của một ý niệm nào đó, hay do một ai đó có khả năng. Và đừng tin tưởng theo ý tưởng ‘vị ấy là thầy của ta’. Nhưng khi chính các vị biết rằng điều ấy là tốt không làm tổn hại ai, đó là sự sáng suốt đáng tán dương và khi thực hành và theo dõi rằng nó sẽ mang đến hạnh phúc, rồi hãy tin tưởng theo". -- (A I 188).

Vì thế chúng ta có thể nói rằng mặc dù Phật giáo không hoàn toàn khoa học, nhưng hẳn đã mang tính khoa học mạnh mẽ và có tính khoa học hơn các tôn giáo khác. Chính ông Albert Einstein (1879-1955) một nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi đã nói về tính khoa học của Phật giáo như sau:

"Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi tinh thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó. Và nếu có bất cứ một tôn giáo nào có thể đương đầu với những nhu cầu của nền khoa học hiện đại, thì đó là Phật giáo vậy."

VH: Nếu hiểu khoa học (trong tiếng Latin scientia, có nghĩa là "kiến thức" hoặc "hiểu biết") là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh…” (Wikipedia) thì đạo Phật không phải là một khoa học. Bởi đạo Phật không đi tìm tòi phát minh ra một cái gì mới cả, mà chỉ chứng nghiệm mọi sự thật như nó đang là một cách rõ ràng. Vì vậy đạo Phật là thực tiễn, nó khoa học vượt lên trên cả khoa học.

Sự hiểu biết của đạo Phật không đơn giản là tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh… mà là Trí tuệ hiểu biết phi không gian, thời gian. Trí tuệ này được khởi lên từ não bộ của một người đã đạt tâm thanh tịnh tuyệt đối do tu tập đúng theo giáo lý đức Phật dạy.

Khoa học có thể chứng minh cho người khác thấy. Đạo Phật là chứng nghiệm thực tiễn nên chỉ tự mình đến để mà thấy, người khác không thấy hộ được. Thế mới có câu: “Đạo Phật là đạo của người có mắt, không phải là đạo của người không có mắt”.

Tóm lại: Đạo Phật không phải là một khoa học nhưng lại rất khoa học đến tuyệt vời.   

Ghi chú:

(1) Sikhism: một đạo phát triển từ Ấn giáo từ thế kỷ 16, chỉ tín ngưỡng một vị thần.

(2) Pháp sư Nikkyo Niwano (1906-1999), người khai sáng Hội Phật Giáo Lập Chánh Giảo Thành (Rissho Kosei-kai, phát xuất từ phái Pháp Hoa Nhật Liên Tông của Nhật bản), là nhà lãnh đạo Hội Tôn Giáo và Hòa Bình Thế Giới, Hiệp Hội Tự Do Tôn Giáo, Hiệp Hội Hòa Bình Niwano, Liên Đoàn Tân Tôn Giáo Nhật Bản, là tác giả của nhiều tác phẩm Phật học quan trọng. (Người dịch)

Nguồn:

http://vnthuquan.org/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn4nvnnn31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Thế sự  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 11.2017 (Sưu tầm). (08.11.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 10.2017 (Sưu tầm). (22.10.2017)  
     •  TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI CƯ SĨ. Ngọc Hương. (14.10.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 09.2017 (Sưu tầm). (29.09.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 08.2017 (Sưu tầm). (08.09.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 07.2017 (Sưu tầm). (25.08.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 06.2017 (Sưu tầm). (13.07.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 05.2017 (Sưu tầm). (19.05.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 04.2017 (Sưu tầm). (18.04.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 03.2017 (Sưu tầm). (14.03.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 02.2017 (Sưu tầm). (24.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 01.2017 (Sưu tầm) (05.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 22.2016 (Sưu tầm). (25.12.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 21.2016 (Sưu tầm). (14.12.2016)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 8 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)