DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 2  
  Số lượt truy cập: 26732  
     
  Untitled Document
   
 
  Dựng lại Chánh pháp
• PHÁP TU THIỀN XẢ TÂM (07). Thầy Thích Bảo Nguyên.  
Cập nhật ngày : 05.01.2017 (Đã đọc : 1104 lần )
(165). "Tự mình, làm điều ác,                       (166). "Chớ theo pháp hạ liệt,
          Tự mình làm nhiễm ô,
                                    Chớ sống mặc buông lung;      
          Tự mình không làm ác,
                                  Chớ tin theo tà kiến,
          Tự mình làm thanh tịnh.
                                 Chớ tăng trưởng tục trần."
          Tịnh, không tịnh tự mình,

          Không ai thanh tịnh ai!"

                                                                 (Phẩm Tự Ngã, Kinh Pháp Cú).

TT XU DO TÂM TO

Ngày xưa đức Phật dạy chúng ta tu tập là tu ngay trong cuộc sống nhân quả của mỗi người. Mình sống như thế nào để không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sinh, đó là tu. Ngài dạy mình tu là ở ngay nơi tâm mình, mình đau khổ bất an là do tâm mình tạo ra, và mình hạnh phúc, giải thoát cũng là do chính mình tạo ra chứ không có Phật, thánh, Bồ-tát nào đem đến khổ cho mình, hoặc gia hộ cho mình hết khổ được.

Khổ là do tâm mình tạo ra, khi mình sống với tâm bất thiện, không có đạo đức thì tự làm khổ mình và làm khổ mọi người xung quanh. Đó là mình tự làm khổ mình chứ không có quỷ thần, ma, người âm, linh hồn nào ám hại mình. Không có thế giới siêu hình nào làm hại, mà tất cả là do tâm mình tạo ra, tự mình hại mình.

Ví dụ: Trước đây người ta tưởng rằng những ngày 13, mùng 3, ngày 23… là những ngày xấu lắm (Ngày mùng 3; 7; 13; 18; 23; 27 ‘âl’ là 6 ngày tam nương, ngày mùng 5; 14; 23 ‘âl’ là 3 ngày nguyệt kỵ). Những ngày tam nương, tam tai đó thì phải kiêng kỵ, nếu đi ra đường không khéo thì sẽ gặp tai họa, tai nạn rủi ro v.v… Mọi người đều tin có cái đó phải không?

Lại có nhiều người tin rằng năm nay là năm sao hạn, nào là sao Thái Bạch, sao Kế Đô, sao La Hầu… Ai nhằm đúng vào các sao xấu này thì lo lắng chắc là mình sẽ khổ, sẽ gặp nhiều tai ương, hoạn nạn. Để tránh tai ương hoạn nạn thì người ta dạy mình đầu năm phải vào chùa cúng vái, cúng sao giải hạn, xin xăm, bói quẻ cầu may… rất nhiều tệ nạn mê tín, lạc hậu như thế.

Phật tử thưa: Hiện giờ con thấy bên Đại Thừa vẫn còn nhiều, rất nhiều chùa có các thầy lập đàn tràng cúng sao giải hạn.

Thầy giảng: Tập tục này là mê tín. Thời đức Phật, tập tục này cũng nhiều lắm, người ta mê tín dị đoan, sống mà tin vào thế giới siêu hình đó nhiều lắm. Có những đạo phái người ta tin rồi sinh ra tập tục lạ. Người ta nghĩ rằng: Mỗi buổi sáng, sau khi ngủ dậy, từ trên giường bước xuống đi ra ngoài thì mình phải dẫm lên tấm thảm, tấm thảm này được làm từ phân bò non.

Đạo Bà La Môn ở Ấn Độ có tập tục thờ bò là như vậy. Người ta tin rằng dẫm lên cái thảm phân bò non đó rồi mới đi ra khỏi nhà sẽ được nhiều điều may mắn, nhiều điều an vui, nhiều điều tốt đẹp, họ tin như vậy. Họ luôn tin rằng: “À, hôm nay mình làm những điều này là mình có nhiều hạnh phúc”. Nhưng thực tế thì không có điều hạnh phúc nào nên họ mới đến hỏi Phật:

“Kính bạch đức Thế Tôn, đạo Bà La Môn dạy con rằng mỗi ngày sau khi ngủ dậy bước xuống giường đi ra ngoài thì phải dẫm lên thảm phân bò non, mỗi ngày làm như vậy sẽ gặp nhiều điều hạnh phúc may mắn. Thưa Thế Tôn, điều đó có xảy ra không?”

Đức Phật nói không có ngày nào là ngày tốt và cũng không có ngày nào là ngày xấu, tốt xấu là do chính tâm con người tạo ra. Lời Ngài dạy: “Tâm chủ tâm tạo tác, tâm dẫn đầu các pháp”. Nếu tâm hành động những điều ác, điều xấu như sát sanh hại vật, gian tham trộm cắp, ích kỷ bỏn xẻn, tà dâm ngoại tình, nói dối lừa gạt hại người, nói lời ác độc, nói lời chia rẽ gây mất đoàn kết, hoặc nghiện ngập rượu bia, cờ bạc, hút chích, v.v… nếu ngày nào hành động theo các điều bất thiện đó thì ngày đó là ngày xấu.

Ví dụ: Có người ngày nào họ cũng uống rượu, hút thuốc, cờ bạc thì họ khổ và những người thân của họ khổ. Nhậu say về là không làm chủ được hành động của mình rồi chửi mắng, đánh đập vợ con, như vậy ngày đó là ngày xấu. Hoặc ngày nào mình sát sanh hại vật thì mình làm con vật khổ, con vật bị mình giết nó khổ lắm. Giống như chúng ta, nếu ngày nào bị những điều tai ương hoạn nạn thì mình cũng đau khổ giống như con vật bị giết hại, ngày đó là ngày xấu. Mình thì phạm vào nghiệp sát sanh, còn con vật thì chịu quả khổ, mình gây nhân, con vật chịu quả khổ.

Như vậy ngày nào hành động chúng ta làm điều xấu ác thì ngày đó là ngày xấu, ngày đó mình gieo hạt mầm xấu, tương lai mình sẽ hưởng quả khổ. Ngược lại, ngày nào mình sống thiện, sống lành, giữ gìn 5 giới: không sát sanh hại vật, không gian tham trộm cắp, không ích kỷ bỏn xẻn, không tà dâm ngoại tình, không nói lời chia rẽ, lời ác độc, lời dối gạt hại người, không sử dụng các thứ nghiện ngập. Như vậy ngày hôm đó mình sống thanh tịnh, giữ đúng 5 giới đức thì đó là ngày tốt, rất là tốt.

Không có ngày nào là ngày xấu nếu mỗi ngày chúng ta sống lúc nào cũng như tâm Phật. Tâm Phật là tâm từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha. Dù người ta có chửi, có xúc phạm, có phỉ báng, có nói những lời nhiếc móc, mạ lỵ thì đức Phật lúc nào cũng thương yêu, tha thứ, hỷ xả, không chấp người hại mình. Đức Phật sống với tâm như vậy thì Ngài không có khổ. Như vậy mỗi ngày đều là ngày tốt.

Như chúng ta trước đây, mỗi khi bị người ta đến hại mình, chửi mình thì hầu hết mọi người đều thán rằng: “Ôi! Hôm nay là cái ngày ông xui bà khiến, ngày mắc oan gia khiến bị xui xẻo”. Mình đổ thừa đủ thứ hết, đổ thừa vì cái này, bởi cái kia,… khi tâm mình sống như vậy thì ngày đó là ngày xấu.

Cho nên, gặp khi hoàn cảnh nhân quả đang xảy ra dù tốt hay xấu thì bản chất chưa phải là xấu. Nếu tâm còn tham, sân, si, khi bị người ta chửi, mình giận lên rồi chửi lại thì ngày đó là ngày xấu.

Nếu người ta chửi mà mình cứ sống như tâm Phật, hành theo lời Ngài dạy: “Thôi, người chửi mình là họ khổ, họ đang tạo nhân xấu, vì họ sân giận nên đang tăng trưởng cái nhân xấu”. Khi thấy họ đang hành động như vậy thì mình biết rằng họ đang khổ lắm. Hành động họ sân giận, chửi bới mình là họ đang khổ. Đức Phật dạy mình hãy biết thương xót họ bằng tâm từ bi hỷ xả.

Đức Phật đã dạy chúng ta từ tâm vô lượng giải thoát quả khổ, bi tâm vô lượng thương xót giải thoát quả khổ, hỷ tâm vô lượng giải thoát quả khổ, xả tâm vô lượng giải thoát quả khổ. Trong đó bi tâm là lòng thương xót.

Khi có người đến chửi mình, hại mình là họ đang tạo nhân, đồng thời họ cũng chịu quả khổ. Người chửi là họ đang tự làm khổ họ, nếu chấp vào tiếng chửi rồi mình giận lên thì mình cũng khổ luôn. Cứ chấp vào tiếng người ta chửi mình, nói xấu mình rồi sinh tâm buồn giận họ thì lại tự mình hại mình. Người đang chửi mình là họ đang hại họ, đang làm khổ họ.

Cho nên đức Phật dạy: “Kẻ thù lớn nhất đời mình là chính mình”. Chỉ có mình hại mình, trên cuộc đời này không có ai hại mình cả. Mình đừng đổ thừa tại mẹ, tại cha, tại anh em, tại người này ác, người kia xấu, không có ai hại ta hết. Người ác, người xấu với mình là người đang tự làm hại họ, nếu mình chấp vào tiếng người ta ác, xấu với mình, mình buồn giận họ là tự mình đang hại mình chứ không có ai hại mình. Chỉ có mình làm hại cho mình chứ không có hoàn cảnh nhân quả xấu nào hại mình cả.

Như đức Phật, cuộc đời của Ngài sóng gió nghịch cảnh nhiều lắm nhưng Ngài không xem là xấu. Chính sóng gió nghịch cảnh lại càng làm cho tâm trí Ngài sáng hơn. Người ta càng hại thì Ngài càng trải lòng từ bi hỷ xả nhiều hơn, mỗi khi tác ý mở lòng từ bi hỷ xả thương xót người hại mình thì tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả càng vô lượng hơn.

Cho nên Phật dạy chúng ta quán từ bi hỷ xả vô lượng tâm giải thoát quả khổ là như vậy. Pháp tứ vô lượng tâm là sống thực tế trong mọi nhân quả khổ để hiểu và thương xót, biết hoan hỷ, biết xả thì tâm mình được giải thoát vô lượng.

Ví dụ với tâm hỷ, Phật dạy chúng ta hỷ tâm vô lượng giải thoát quả khổ.

Hỷ tâm là tâm hoan hỷ bằng lòng hết, hỷ xả hết thì mình không còn khổ với ai nữa. Lỡ tháng này mình thất nghiệp không có công ăn việc làm nên có nhiều khó khăn, trước hoàn cảnh thiếu thốn khó khăn đó thì mình tác ý:

“Thôi, cái gì cũng là do nhân quả cả, nhân quả vô thường, nay dù khó khăn chăng nữa thì mình hãy tập sống với hạnh như Phật, hãy hoan hỷ, hãy bằng lòng chấp nhận hoàn cảnh khó khăn này. Cuộc đời không có gì ngoài nhân quả, không có gì ngoài nghiệp của mình, nghiệp do mình tạo, nếu biết tu tập, biết hoan hỷ bằng lòng xả nó thì mình không khổ.

Hãy hoan hỷ, bằng lòng trước nhân quả xấu này, không tự ti mặc cảm, không tủi thân than thân trách phận, không mong muốn ăn sung mặc sướng, không khao khát giàu sang, không sợ mình nghèo, mình cứ sống với tâm vô ngã. Hãy bằng lòng với mọi hoàn cảnh nhân quả của mình”.

Khi tác ý hỷ tâm vô lượng như vậy thì tâm mình không còn đau khổ nữa. Ngày xưa đức Phật dạy quán từ bi hỷ xả vô lượng tâm giải thoát quả khổ là như vậy.

Tu tập là mình phải đối diện với thực tế mọi sự trong cuộc sống hàng ngày, sự việc nào đang làm mình khổ, làm mình phiền não thì ngay cảnh khổ đó mình biết tu, biết sửa, biết vượt qua thì đó là Niết-bàn, đó là giải thoát. Niết-bàn là ở ngay trong cảnh khổ đó mình biết tu tập, biết sống đạo đức với nhân quả khổ, mình không tham, sân, si với nhân quả khổ thì đó là Niết-bàn. Vì thế trong kinh đức Phật dạy: “Phiền não tức là Bồ đề.

Phiền não là gì? Là chỉ cho nghiệp lực tham, sân, si, mạn, nghi của chúng ta. Khi đối diện với tâm phiền não tham, sân, si, mạn, nghi mà mình biết hỷ xả, biết vượt qua nó thì ngay đó là Bồ đề, là Phật. Đức Phật thành Phật cũng do Ngài biết nhìn vào cái tâm phiền não tham, sân, si, mạn, nghi này. Ngài biết xấu hổ và rải tâm từ bi hỷ xả với phiền não thì ngay tâm đó là Phật. Phật tại tâm chúng ta là như vậy chứ không phải đi tìm ở đâu xa.

Phật tử thưa: Trong mỗi con người, tâm Phật đều đã có sẵn phải không?

Thầy giảng: Đúng rồi! Trong con người có đầy đủ những phước báu, vô lượng phước báu, phước báu này là do tâm đạo đức tạo ra. Chúng ta cần lưu ý: Các công đức, phước báu là do tự tâm tạo ra chứ không phải hành động mình mang tiền của cho người là có phước báu. Đem tiền của cho người mà mình không có trí thì không khéo còn làm khổ người ta nữa.

Đức Phật dạy phước báu là do tâm đạo đức tạo ra. Ví dụ: Nếu sống với tâm không làm ác, không sát sanh hại vật thì mình không còn khổ với ai. Hoặc khi sống với tâm không có gian tham, ích kỷ bỏn xẻn thì mình không bị nghèo khổ đói khát nữa. Cho nên mọi công đức lành, mọi phước lành là do tâm tạo.

Trong bài kinh Đại Phương Quảng đã dạy: một người đến hỏi ngài Xá Lợi Phất nhiều câu hỏi, trong đó có câu về ý nghĩa “Tâm giải thoát quảtâm giải thoát quả công đức.

Chúng ta cần hiểu tâm giải thoát quả là gì? Tâm giải thoát quả là chỉ cho tâm không còn đau khổ. Tâm không còn đau khổ là tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi. Tâm không còn giận hờn ai, không còn buồn phiền với ai nữa, tâm đó gọi là tâm giải thoát quả. Mục tiêu cứu cánh của đạo Phật là đạt được tâm giải thoát quả. Tất cả các pháp đức Phật dạy đều nhằm hướng đến dứt trừ tâm phiền não tham, sân, si, mạn, nghi. Ai tu tập đoạn trừ tâm phiền não này là chứng đạt tâm giải thoát quả.

Khi giải thoát rồi, tâm mình không còn phiền não tham, sân, si, mạn, nghi thì chính tâm đó mới tạo ra vô lượng công đức lành cho ta. Đó gọi là tâm giải thoát quả công đức. Như vậy những điều an lành, hạnh phúc nơi ta đã tạo ra vô lượng quả lành, vô lượng hạnh phúc là do chính cái tâm giải thoát quả.

Ví dụ như đức Phật không còn tâm phiền não tham, sân, si, mạn, nghi nữa thì dù nghịch cảnh sóng gió thế nào, dù người ta có hại Ngài, có mạ lỵ, xúc phạm đến đâu thì Ngài cũng không khổ. Ngược lại, Ngài rải tâm từ bi thương xót người hại mình, không giận ghét mà còn thương, thương xót người kia nhiều nữa. Khi Phật sống với tâm như vậy thì Ngài vô cùng hạnh phúc. Vì lý do đó mà Ngài mới dạy: “Này các con, sở dĩ Ta thành Chánh giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành đều từ đó sinh ra”.

Lời dạy này có ý cốt lõi: “Tâm không phóng dật, muôn pháp lành từ đó sinh ra”. Vậy tâm không phóng dật là gì? Tâm không phóng dật là tâm có định, là tâm không còn phiền não tham, sân, si, mạn, nghi. 

Phật tử thưa: Con không hiểu tâm không phóng dật cụ thể nó như thế nào vậy Thầy?

Thầy giảng: Thầy sẽ giải thích cho quý vị hiểu rõ hơn. Tâm phóng dật là tâm phiền não, tâm không có định. Người có định là người có tâm không phóng dật, là người không còn phiền não.

Ví dụ: Như tai mình nghe người ta khen hoặc chê thì lời khen mình không dính mắc, không ham thích, lời chê cũng không vướng bận, không buồn phiền hờn giận, tâm mình bất động giữa khen chê như vậy. Tâm đó là không phóng dật, là không phiền não, tâm đó là định.

Chúng ta phải hiểu rõ nghĩa chữ định Phật dạy. Tâm định là tâm không còn phiền não tham, sân, si, mạn, nghi; không còn niệm triền cái đau khổ với ai. Đó gọi là định.

Còn người không có định thì tâm luôn phóng dật, được ai khen là mừng lắm, thích lắm, khen một lần rồi mai mốt mong người ta khen nữa. Tâm người này là phóng dật thích khen lắm. Hoặc người này khi bị ai chê thì giận luôn, thấy mặt là ghét không muốn gặp nữa. Đó là tâm phóng dật, tâm còn dao động, tâm này đức Phật dạy là “như cây yếu trước gió”.

Chúng ta đều thấy ngọn cây, gió thổi nhẹ qua là lung lay liền. Cũng vậy, tâm một người còn phiền não, còn phóng dật thì trước những nghịch cảnh sóng gió nó sẽ dao động, phiền não, đau khổ liền. Tâm đó là tâm phóng dật, tâm này chưa có chánh định như trong Bát Chánh đạo Phật dạy.

Người còn phóng dật là chưa có chánh định, tâm đang còn dao động, còn phiền não. Khi mình sống với tâm dao động, phiền não thì không bao giờ có an lạc được. Tâm mình đau khổ, bất an, sống như vậy thì chỉ tự làm khổ mình và mọi người.

Đức Phật dạy người nào sống không phóng dật là lúc nào họ cũng biết tu tập xả tâm, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và như lý tác ý. Để tâm không còn phóng dật, không phiền não dao động trước mọi nhân quả nghịch cảnh, sóng gió thì mình phải sống nương theo pháp Phật dạy là hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, như lý tác ý.

Hộ trì các căn là gì? Các căn là chỉ cho 6 căn của chúng ta: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý.

Như thế nào là hộ trì?

Ví dụ như miệng mình ăn, lỡ thức ăn có dở, không ngon thì tâm mình khởi lên tâm phiền trách: dở quá, nấu không khéo gì hết, làm sao mà ăn được đây. Tâm phiền trách đó là phóng dật rồi, là như cây yếu trước gió mất rồi. Tâm như vậy là chưa có định.

Để tâm mình bất động không còn phóng dật thì khi ăn gặp món dở mình phải khởi ý rằng: “Thôi, Phật dạy ai cho gì ăn nấy, ngon không ham thích đắm nhiễm, dở không buồn hờn chê bai, ăn để mà sống, thức ăn đều là đồ bất tịnh, ngon dở là do vị giác của mình.”

Cảm giác mặn, ngọt, đắng, cay, chát, bùi khi ăn là do lưỡi nhận biết, gọi là vị, trong 6 thức gọi là thiệt thức. Khi mình ăn ngon dở, mình biết được vị của thức ăn, nhận biết ra vị gọi là thiệt thức. Như vậy thiệt thức chẳng qua nó là cái thức, sự nhận biết vị của lưỡi, tự thân nó có phiền não gì đâu.

Khi ăn, mình chấp vào sở thích riêng của mình, lúc nào cũng muốn ăn ngon, ai nấu dở là buồn bực. Chính vì tâm tham, sân, si, mình chấp vào vị giác này mà sinh ra phiền não. Nếu con người sống với tâm phiền não như vậy thì đó gọi là tâm phóng dật.

Đức Phật dạy chúng ta sống phòng hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, như lý tác ý. Nếu lỡ người ta cho mình thức ăn dở hoặc là thức ăn không ngon thì mình tác ý rằng: “Thôi, thức ăn dù ngon dở gì nó cũng là bất tịnh, ăn vào qua khỏi cổ là đều giống nhau cả”. Tiếp theo Phật dạy mình tác ý hỷ tâm vô lượng giải thoát quả khổ: “Hãy hoan hỷ, vui vẻ bằng lòng mà ăn, ăn không có phiền não với ai, hãy hoan hỷ mà ăn”.

Khi tác ý như vậy thì tâm mình không còn phóng dật với ai, không còn dao động nữa. Tâm đó đức Phật ví: “Như đá tảng kiên cố, không gió nào lay động”.

Chúng ta thấy tảng đá nó nằm cứng vững như vậy, dù có gió cấp 11, cấp 12, cũng không lung lay mà bất động luôn. Cũng vậy, một vị không phóng dật, không có phiền não tham, sân, si; tâm lúc nào cũng hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, như lý tác ý xả phiền não thì đức Phật ví là:

           “Như đá tảng kiên cố,
           Không gió nào lay động,
           Bất động giữa khen chê,
           Người trí không dao động. (Kệ 81, Phẩm Hiền Trí, Kinh Pháp Cú).

Cuối cùng chúng ta nhờ trí tuệ, nhờ hiểu ra sự thật nên không để tâm tham, sân, si chấp vào mọi nhân quả tốt xấu, mình tác ý xả hết. Hiểu rằng nếu mình tham đắm là tăng trưởng lòng tham; nếu mình buồn phiền là tăng trưởng lòng sân. Như vậy chỉ làm khổ mình thêm, nên mình hãy hỷ xả hết, vô ngã hết, ăn để mà sống.

Khi như lý tác ý như vậy thì tâm chúng ta sẽ bất động, tâm đó là định. Tâm định là tâm không phóng dật, tâm không phóng dật là tâm không còn phiền não. Tâm không phiền não tức là tâm Bồ đề. Cho nên kinh Phật dạy “Phiền não tức Bồ đề” là như vậy.

Sống trong cảnh khổ, cảnh khó mà mình hiểu, mình hoan hỷ, mình xả nó, mình không chấp ngã nó thì tự ngay đó là Bồ đề, ngay đó là an lạc giải thoát Niết-bàn. Nên đức Phật dạy: “Sở dĩ Ta thành Chánh giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành đều từ đó sinh ra” là như vậy.

Tâm chúng ta, một khi không còn phiền não tham, sân, si, mạn, nghi thì dù mình sống ở đâu, bất cứ môi trường nào cũng đều tạo ra sự an lạc, hạnh phúc. Dù người ta có hại mình, có chửi mắng mình mà tâm mình lúc nào cũng hỷ xả vô lượng thì tâm đó không còn khổ.

Ở trên Thầy đã giảng rõ phần tâm giải thoát quảtâm giải thoát quả công đức, quý phật tử đã hiểu rồi phải không? Như vậy mọi sự hạnh phúc an vui có được là do chính cái tâm không còn phiền não, không còn tham, sân, si đã tạo ra vô lượng công đức lành cho ta.

Như đức Phật đã dạy: “Sở dĩ Ta thành tựu chánh đẳng chánh giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành từ đó mà sinh”. Nghĩa là mình sống với cái tâm không phiền não, không giận hờn, không trách móc, không hơn thua, không ích kỷ, không ganh ghét thì chính tâm đó tạo ra vô lượng công đức lành.

          Tâm đó tạo ra công đức chứ không phải như trước đây người ta hiểu sai, người ta dạy mình:
          Để có công đức vô lượng thì những ngày lễ, ngày rằm phải đến chùa cúng dường trai tăng. Trai tăng càng nhiều, càng lớn thì công đức càng lớn.
          Hoặc để có công đức vô lượng thì phải siêng năng lạy Phật sám hối. Ai lạy Phật sám hối được nhiều chừng nào thì phước đức càng nhiều vô lượng chừng ấy.
          Hoặc để có công đức vô lượng thì hãy niệm Phật, chuyên tâm trì niệm Phật: Nam mô a di đà Phật.

Hoặc để có công đức vô lượng thì hãy niệm thần chú, niệm chú Đại bi, ai tụng chú Đại bi chuyên tâm thành khẩn thì phước đức vô lượng, muốn có chùa thì có chùa, muốn phật tử cúng dường nhiều thì có phật tử cúng dường nhiều, muốn có xe hơi thì có xe hơi. Nói chung là muốn gì được nấy.

Hoặc để có công đức vô lượng thì phải siêng năng tụng kinh, mà tụng kinh phải thành kính thì mới có công đức. Thậm chí, để có công đức nhiều nữa thì khi tụng kinh, mỗi câu mỗi chữ phải lạy một lạy.

Nói tóm lại, từ trước tới giờ người ta tưởng rằng để có vô lượng công đức lành thì phải làm phước, trai tăng cúng dường, xây chùa đúc tượng. Hoặc tụng kinh niệm Phật, lạy Phật sám hối. Hoặc ngồi thiền người ta cũng tưởng là được phước. Người ta dạy mình ngồi thiền giữ tâm vắng lặng, ai ngồi thiền nhiều thì phước đức nhiều.

Hầu hết mọi người đặt lòng tin vào các công đức lành là như vậy, bởi người ta dạy mình như thế. Nhưng ngày xưa đức Phật dạy chúng ta vô lượng công đức lành là do tâm không phóng dật. Lời Ngài vẫn rõ ràng đây: “Sở dĩ Ta thành tựu chánh đẳng chánh giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành từ đó mà sanh”.

Tâm không phóng dật là gì? Ở trên Thầy đã giảng kỹ, giờ nói thêm để phật tử nhớ lâu. Tâm không phóng dật là tâm không có phiền não, không có đau khổ, không có tham, sân, si, mạn nghi.

Ví dụ tai nghe người ta khen hoặc chê mình, mình hiểu rằng: Dù khen hay chê cũng là pháp vô thường, mình không tham chấp, không nên buồn phiền sân giận với ai”. Khi như lý tác ý như vậy rồi mình xả tâm vô lượng giải thoát, mình không chấp lời khen chê thì ngay đó là tâm không phóng dật. Ý nghĩa không phóng dật là như vậy.

Tâm không phóng dật đức Phật dạy rằng vô lượng công đức lành đều từ đó mà sanh. Tâm chúng ta khi không còn phóng dật, không còn phiền não, tham, sân, si, mạn, nghi nữa thì tự nó tạo ra vô lượng công đức lành. Đó gọi là tâm giải thoát quảtâm giải thoát quả công đức là như vậy. Cho nên trong kinh Pháp Cú đức Phật dạy:

           Tâm chủ tâm tạo tác
           Tâm dẫn đầu các pháp
            Nếu nói hay hành động
            Với tâm tư thánh thiện
            Hạnh phúc sẽ theo ta
            Như bóng không rời hình. (Kệ 2, Phẩm Song Yếu, Kinh Pháp Cú).

Nếu tâm này sống không có phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, không có buồn phiền, giận hờn, trách móc, hơn thua với ai hết, khi sống với tâm thánh thiện như vậy thì tự nó luôn hạnh phúc và an lạc. Dù mình có sống giữa cảnh khổ mà tâm mình không khổ, tự nó an lạc, tự nó giải thoát, giống như hoa sen sống giữa bùn mà vẫn tinh khiết không ô nhiễm bùn.

Cho nên mọi công đức lành có được là do chính tâm chúng ta tạo ra, tâm không phóng dật, muôn pháp lành từ đó mà sanh. Tâm không phóng dật chỉ cho cái tâm thiện, mình sống bằng chánh kiến, chánh tư duy, chánh mạng, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Tâm ý của mình lúc nào cũng sống chơn chánh, lúc nào cũng làm chủ nhân quả, không có phiền não trước mọi nhân quả thì tâm đó là không phóng dật. Hiểu rõ ý nghĩa tâm phóng dật rồi, từ nay mình không còn dám phóng dật với ai nữa.

Như Thầy bây giờ khỏe lắm, ai làm gì thì làm, Thầy biết hết trơn“Thôi, hãy hỷ xả, hãy tha thứ đi, người ta khen chê đó là nhân quả, đó là pháp vô thường”. Khi Thầy tác ý như vậy thì không còn oán trách, giận hờn ai nữa.

Còn tâm chúng ta chưa xả được, ai đụng chạm đến mình thì sinh ra chê bai đủ thứ, gặp người này nói, gặp người kia kể, đủ thứ chuyện trên đời, như thế là khổ lắm. Cho nên chúng ta hãy sống như tâm Phật, hãy hỷ xả vô lượng giải thoát quả khổ, buông xả hết thì ngay tâm đó là giải thoát Niết-bàn liền, không phải đi tìm đâu xa hết.

Phật tử thưa: Thưa Thầy, con chưa hiểu rõ về Niết-bàn, có phải Niết-bàn có cõi riêng của nó không ?

Thầy giảng: Danh từ Niết-bàn chỉ là một khái niệm, là một tên gọi. Niết-bàn là trạng thái tâm không phiền não, trạng thái ấy có thật. Niết-bàn không phải là một cõi riêng, một thế giới nào ở đâu xa như trước đây người ta nghĩ rằng có một cõi, có một cảnh giới riêng của Niết-bàn.

Người ta nghĩ tưởng về một thế giới Tây phương Cực lạc siêu hình đầy hạnh phúc, ở trên đó có Bồ tát, có Phật ngự tòa sen, có đủ các vị thánh. Người ta cũng nghĩ rằng có một cõi khổ như cõi địa ngục, ở dưới đó có quỷ sứ, có diêm vương hành tội, có những tội nhân bị quỷ sứ hành hạ v.v…

Người ta còn nghĩ tưởng ra những cõi siêu hình như ngạ quỷ, A-tu-la đều có thế giới riêng của nó. Thế giới ngạ quỷ có cái đầu to, cổ nhỏ như cây kim, bụng to như trống lớn, muốn ăn không ăn được. Thế giới A-tu-la thân tướng to cao, mặt mày xấu xí, tính khí thì nóng giận như thiên lôi.

Người ta mê muội nên mới tưởng tượng ra các thế giới như vậy. Nhưng thực chất không bao giờ có các thế giới siêu hình đó, các thế giới này là do ảo niệm của tâm thức tạo ra.

Thế giới cõi trời chỉ cho trạng thái tâm giải thoát của những ai không còn phiền não, không còn tham, sân, si, mạn, nghi. Họ sống trong đạo đức lành như từ, bi, hỷ, xả, vô ngã vị tha. Họ tu tập pháp ngăn ác diệt ác, diệt ngã xả tâm ly dục ly ác pháp. Hàng ngày họ sống với những đạo đức này thì tâm tạo ra sự an lạc. Khi an lạc của tâm ở mức nào thì tương ưng với trạng thái riêng của nó.

Ví dụ, một vị thánh tu tập diệt trừ 5 triền cái tham, sân, si, mạn, nghichứng được quả sơ thin. Lúc đó tâm vị ấy sống trên thế giới riêng của sơ quả, thế giới này là do tâm thức tạo ra, tâm thức lại ở trên thân ngũ uẩn mỗi người. Thân ngũ uẩn này đức Phật đã dạy là nó vô thường. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng vô thường, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta.

Với trạng thái sơ thiền thiên, khi một vị thánh ly dục ly bất thiện pháp thì tự tạo ra trạng thái hạnh phúc, an lạc giải thoát của tâm. Trạng thái này tương ưng vào sơ thiền thiên. Đức Phật dạy trạng thái sơ thiền an lạc này cũng là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, phải chịu vô thường và hoại diệt, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta.

Do hiểu biết như thật nên đức Phật dạy chúng ta đừng chấp ngã vào thế giới này, dù mình có an lạc nhưng đừng chấp vào lạc thọ của sơ thiền thì ngay đó mình không còn tương ưng vào thế giới của sơ thiền nữa. Khi xả được trạng thái lạc thọ do ly dục sanh, mình không chấp ngã nó, không chấp thủ nó thì ngay đó là Niết-bàn.

Cho nên trong kinh Phật dạy:“Vô thủ chấp trước Niết-bàn”. Mình không còn chấp ngã, không còn chấp thủ đối với các hành tướng nhân quả nào dù là lạc hay khổ mình đều xả hết, bất động hết thì ngay tâm đó là Niết-bàn. Khi Niết-bàn thì không còn thấy có thế giới nào khác.

Cho nên các thế giới luân hồi: trời, người, a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh là khái niệm do tâm thức tạo ra. Tâm thức này đức Phật dạy là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, phải chịu vô thường và hoại diệt, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta.

Còn trạng thái Niết-bàn là trạng thái bất tử, trạng thái không còn sinh tử, không còn tương ưng vào thế giới nào nữa.

Ví dụ như tâm bậc thánh, các ngài sống một đời sống giải thoát, tâm an lạc, đạo hạnh cao tuyệt, quả lành rất lớn nhưng các ngài không chấp thủ nó, các ngài hướng đến xả ly hết. Trong pháp 7 Giác chi Phật gọi là Xả giác chi, Ngài chứng được năng lực giải thoát nào thì dẫn tâm, hướng tâm đến Xả giác chi. Do Ngài hướng tâm đến Xả giác chi nên không còn chấp thủ vào quả chứng nào trên tâm thức này. Như vậy ngay tâm thức đó các thế giới đoạn diệt sạch.

Đến đây đức Phật nói tâm của Ngài không còn tương ưng vào các thế giới: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Tâm Ngài đã thoát ra khỏi các cõi, các thế giới như: Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, quần chúng, Sa-môn, Bà-la-môn, loài trời và loài người không còn tìm thấy đức Phật. Nghĩa là trong tâm thức Phật, khi Ngài xả hết không còn chấp ngã các trạng thái an lạc giải thoát nào, Ngài buông xả hết, không còn chấp thủ nữa thì lập tức các thế giới dục giới, sắc giới, vô sắc giới, thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, quần chúng, Sa-môn, Bà-la-môn, loài trời và loài người đoạn diệt sạch ngay trên thân ngũ uẩn này.

Khi Ngài xả hết, không còn chấp thủ nữa thì ngay cái thân này đức Phật nhập Niết-bàn. Trạng thái ấy đức Phật gọi là Hữu dư y Niết-bàn. Thân này đã có Niết-bàn rồi, đã nhập Niết bàn ngay hiện tại thì trạng thái tâm đó gọi là hữu dư y Niết-bàn.

Như vậy Niết-bàn là gì? trạng thái tâm vô lậu không còn tương ưng vào các thế giới của nó. Ngày xưa, trong kinh đức Phật dạy Niết-bàn làVô tướng tâm giải thoát” hoặc “Vô tướng tâm định”, hoặc “Bất động tâm định, đó là các trạng thái của Niết-bàn. Ngày nay Trưởng lão Thích Thông Lạc dạy có tên gọi là Tâm bất động thanh thản an lạc vô sự, đó cũng là trạng thái Niết-bàn.

Người sống với trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc vô sự đặc biệt lắm. Tâm của họ như cục đất mà trí tuệ thì siêu việt, không ai có thể làm người này khổ được bởi vì họ có trí tuệ, họ hiểu nên buông xả hết.

Khi thân này còn sống, nhờ trí tuệ hộ trì chân lý bất động này, nên nhân quả, sóng gió xảy ra rất nhiều tâm cũng không dao động. Nhờ trí tuệ chánh tri kiến, nương vào các pháp hành trong 37 pháp trợ đạo của Phật gồm: “5 căn, 5 lực, 4 bất hoại tịnh, 4 chánh cần, 4 vô lượng tâm, 4 niệm xứ, 7 Bồ đề phần, 4 như ý túc để hóa giải phiền não, để tâm mình không còn phóng dật, để tâm mình không còn tương ưng vào các hành tướng nhân quả thì đó là Niết-bàn.

Trong chân lý TDiệu đế, đức Phật dạy Niết-bàn Diệt đế. Diệt đế là diệt mọi chấp thủ, chấp ngã, không còn tham, sân, si, mạn, nghi trước mọi nhân quả thì tâm đó là Diệt đế, tâm đó là Niết-bàn. Cho nên Niết-bàn không phải là một cõi nào, không phải là một thế giới nào như người ta đã tưởng tượng ra.

Trong tâm chúng ta, khi dứt trừ phiền não thì tự nó tương ưng Niết-bàn chứ không phải cái thức này là Niết-bàn. Cái thức này chỉ là cái biết thôi, nó là pháp vô thường, khi mình mất đi thì cái thức này hoại diệt ngay liền. Thân ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức khi vô thường hoại diệt thì các uẩn này cũng tan hoại hết, dù mình có thiền định tam minh chăng nữa thì cũng hoại diệt sạch. Thiền định tam minh đến đây là chấm dứt, chỉ còn lại trạng thái bất tử, không còn sinh tử luân hồi nữa, trạng thái này tht.

Hiện tại, tâm thức chúng ta vẫn cảm nhận ra, thấy được trạng thái bất tử Niết-bàn của nó.

Ví dụ, bây giờ Thầy và quý phật tử ngồi đây, mình sống với pháp, mình nghe Thầy giảng, mình hiểu, mình xả tâm. Xả tâm rồi thì mình không có khổ phải không? Trên cái tâm không có khổ đó thì vô cùng hạnh phúc, mình đang cảm giác trạng thái hạnh phúc không còn phiền não đau khổ, đó là Niết-bàn.

Nhưng khi thân này hoại diệt, mọi thức hoại diệt, tâm thức này hoại diệt nhưng trạng thái hạnh phúc trở thành bất tử, nó vĩnh cửu luôn, không bao giờ còn tái sinh trở lại đời này nữa, nó vô cùng hạnh phúc.

Cho nên Niết-bàn là chân lý, là Diệt đế, là sự thật. Niết-bàn không phải tìm đâu xa mà nó ngay trong tâm này, tâm biết buông xả, biết vô ngã, không có phiền não, dính mắc nhân quả nào với ai.

Khi mình sống với tâm vô ngã, xả tâm như vậy thì tâm đó là Niết-bàn, nó không phải tìm đâu xa hết, Niết-bàn là ngay tại tâm mỗi người. Người nào bị mất Niết-bàn (không có Niết-bàn, chỉ có phiền não) là do tâm phóng dật. Cho nên người phóng dật là người còn sinh tử. Vì vậy đức Phật dạy: Phóng dật như chết rồi, phóng dật phải tử sinh” là như vậy.

Còn tâm của người không phóng dật là dứt trừ mọi phiền não, không còn đau khổ, không còn dao động trước bất cứ nhân quả gì ở đời thì tâm đó là Niết-bàn.

Trước đây mọi người nghĩ Niết-bàn là một cõi, một cảnh giới, khi mình tu chứng rồi, khi chết đi thì mình mới nhập về cõi Niết-bàn đó. Hầu hết mọi người đều hiểu sai như vậy, họ hiểu Niết-bàn như một cõi siêu hình, khi chết rồi mới nhập về cõi đó.

đây đức Phật dạy Niết-bàn là ngay tại tâm của mỗi chúng ta, mình không phải đi tìm đâu xa, mà ở ngay tại đây, ngay hiện tại này.

Ví dụ quý phật tử khi nghe pháp Thầy giảng như vậy, trở về mình sống với gia đình, nếu chồng, con, công việc làm ăn lỡ có xảy ra những chuyện gì không tốt thì mình tác ý:“Thôi! Hãy hỷ xả, không nên phiền giận ai, không nên buồn trách ai, nhân quả này vô thường. Hãy xả đi đừng có chấp”. Khi tác ý như vậy thì tâm không còn dao động trước mọi nhân quả, thì tâm đó là Niết-bàn.

Niết bàn là ngay tại tâm của chúng ta. Chứ Niết-bàn không có nhập, không có xuất gì hết, nó là trạng thái bất tử, một trạng thái không còn phiền não tham, sân, si, mạn, nghi. Đó là Niết-bàn.

Sau khi quý phật tử giác ngộ được chân lý giải thoát, pháp cứu cánh Niết-bàn như vậy thì từ nay cố gng hộ trì chân lý này. Trong kinh đức Phật đã dạy 4 giai đoạn học và hành trì pháp: “Giác ngộ chân lý, Hộ trì chân lý, Chân lý được hộ trì, Chứng đạt chân lý”.

Giác ngộ chân lý là gì? Là giác ngộ chân lý Diệt đế, “Pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian đến để mà thấy có quả tức thời, chỉ người trí tự mình giác hiểu, đức Phật gọi là giác ngộ chân lý. Trạng thái tâm giải thoát không còn sinh tử, tâm bất tử luôn, tâm đó là Diệt đế. Diệt đế chỉ cho tâm không có phiền não tham, sân, si, mạn, nghi với ai, tâm mình từ bi hỷ xả, vô ngã, không còn chấp vào các nhân quả thì tâm đó là Niết-bàn, tâm đó là chứng đạt chân lý.

Quý phật tử sống như vậy là mình đang hướng đến Niết-bàn, không cần phải đi tìm đâu xa nữa. 

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Thế sự  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 11.2017 (Sưu tầm). (08.11.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 10.2017 (Sưu tầm). (22.10.2017)  
     •  TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI CƯ SĨ. Ngọc Hương. (14.10.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 09.2017 (Sưu tầm). (29.09.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 08.2017 (Sưu tầm). (08.09.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 07.2017 (Sưu tầm). (25.08.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 06.2017 (Sưu tầm). (13.07.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 05.2017 (Sưu tầm). (19.05.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 04.2017 (Sưu tầm). (18.04.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 03.2017 (Sưu tầm). (14.03.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 02.2017 (Sưu tầm). (24.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 01.2017 (Sưu tầm) (05.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 22.2016 (Sưu tầm). (25.12.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 21.2016 (Sưu tầm). (14.12.2016)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 8 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)