DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 2  
  Số lượt truy cập: 26996  
     
  Untitled Document
   
 
  Tìm hiểu kinh Nikaya
• KINH PHẬT TỰ THUYẾT (Ud 49 - Ud 91) - Kinh Tiểu Bộ.  
Cập nhật ngày : 14.03.2016 (Đã đọc : 1932 lần )

Phẩm Trưởng Lão Sona

(Ud 49)

            Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, một người bị bệnh hủi tên là Suppabuddha, nghèo đói, ăn xin, khốn cùng. Lúc bấy giờ, Thế Tôn với đại chúng đoanh vây, đang ngồi thuyết pháp. Người hủi Suppabuddha thấy từ đàng xa đại chúng đang tụ hội, thấy vậy liền suy nghĩ: "Không nghi ngờ gì na, đy, có th có chia phn cái gì ăn được, loi cng hay loi mm. Vy ta hãy đi đến đi chúng y, mong rng ta s được chút gì ăn được, loi cng hay loi mm". Rồi người hủi Suppabuddha đi đến đại chúng ấy. 

            Người hủi Suppabuddha thấy Thế Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng đang đoanh vây xung quanh, thấy vậy liền suy nghĩ: " đây không có cái gì ăn được, loi cng hay loi mm đ chia phn. Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho hi chúng. Vy ta hãy nghe pháp". Tại đấy, người hủi ngồi xuống và nghĩ: "Ta s nghe pháp".

            Rồi Thế Tôn, với tâm của mình duyên với tâm của toàn thể hội chúng tác ý rằng: " đây, ai có th hiu được pháp". Thế Tôn thấy người hủi Suppabuddha đang ngồi trong hội chúng, thấy vậy liền suy nghĩ: " đây, ngưòi này có thể hiu pháp". 

            Vì người hủi Suppabuddha, Thế Tôn tuần tự thuyết pháp, tức là thuyết bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về thiên giới, thuyết về sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của người hủi Suppabuddha đã sẵn sàng, đã nhu thuận không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo.

            Cũng như tấm vải thuần bạch, được gội rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy chính tại chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm người hủi Suppabuddha: "Phàm cái gì được khi lên, tt c đu b đon dit". Khi ấy người hủi Suppabuddha thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với lời dạy của đức Bổn Sư, từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người hủi Supabuddha bạch Thế Tôn:

            - Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mặt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích, Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo, mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

            Rồi người hủi Suppabuddha được Thế Tôn với bài pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. 

            Rồi một con bò húc vào người hủi Suppabuddha và đoạt mạng sống. Rồi nhiều tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các rỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

            - Bạch Thế Tôn, người hủi tên Suppabuddha được Thế Tôn với bài pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ đã mạng chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Tương lai của vị ấy thế nào?

            - Này các tỷ-kheo, Hiền trí là người hủi Suppabuddha, đã thực hành tuỳ pháp đúng pháp, không có làm phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Người hi Suppabuddha sau khi đon tn ba kiết s, đã chng được qu D lưu, không còn bị thi đa, chc chn đạt được Chánh giác.

            Khi nghe nói vậy một tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
            - Bạch Thế Tôn do nhân gì, do duyên gì, người hủi Suppabuddha lại là người nghèo đói, là người ăn xin, là người khốn cùng?

         - Thuở xưa, này các tỷ-kheo, người hủi Suppabuddha là con một nhà triệu phú ở Ràjagaha khi đi ngang qua một khu vườn, vị ấy thấy đức Phật Ðộc giác Tagarasikhi đang đi vào thành khất thực. Thấy vậy, vị ấy suy nghĩ: "Ai là người hi này li đi do chơi" và vị ấy nhổ nước miếng và xây lưng phía trái rồi bỏ đi. Do hành động này của vị ấy được thuần thục, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, vị ấy bị nấu trong địa ngục. Do sự thành thục thêm nữa của nghiệp ấy, chính tại Ràjagala này, vị ấy là một người nghèo đói, là người ăn xin, là người khốn cùng! Nay vị ấy do y cứ vào pháp luật được Như Lai thuyết giảng, vị ấy được lòng tin, vị ấy được giới, vị ấy được nghe pháp, vị ấy được từ bỏ, vị ấy được trí tuệ, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh thiện thú, thiên giới, đời này, được cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba. Tại đấy, vị ấy chói sáng hơn các chư Thiên khác về dung sắc và danh xưng.

            Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:
            "Như người có mt nhìn,
            Cố gng tránh li lõm,
            ng vy k trí tránh,
            Ðiều ác gia đi này".

(Ud 50)

            …Thế Tôn thấy nhiều thiếu niên giữa Sàvatthi và Jetavana đang hành hạ các con cá, thấy vậy đi đến các thiếu niên ấy, sau khi đến nói với chúng:
            - Này các Thiếu niên, các em có sợ đau khổ không? Các em không ưa thích khổ phải không?".
            - Thưa vâng, bạch Thế Tôn, chúng con sợ đau khổ. Chúng con không ưa thích khổ.

            Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:
            "Nếu con không ưa khổ,
            Dầu bt c ch nào,
            Chớ làm các nghip ác,
            Trước mt hay sau lưng
            Nếu con làm, s làm,
            Các nghiệp ác, bt thin,
            Con không giải thoát kh,
            Dầu nhy vt và chy".

(Ud 69)

Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các di sĩ trú ở Sàvatthi. Họ có quan điểm khác nhau. Họ có kham nhẫn khác nhau. Họ có sở thích khác nhau. Họ y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau.

Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Tự ngã và thế gii là thường còn, ch đây là s tht, ngoài ra là hư vọng"… "T ngã và thế gii là vô thường"... "T ngã và thế gii là thường còn và vô thường"... "T ngã và thế gii là không thường còn và không vô thường..." "T ngã và thế gii do t mình to ra"... "T ngã và thế gii do người khác to ra"...  "Lc kh, t ngã và thế gii là thường còn"... "Lc kh, t ngã và thế gii là vô thường"... "Lc kh, t ngã và thế gii là thường còn và vô thường"... "Lc kh, t ngã và thế gii là không thường còn và không vô thường"...

Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, quan điểm như sau. Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau, bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này không phi là pháp. Như thế này không phi pháp, như thế này là pháp". 





TĂNG HÒA HỢP

Rồi nhiều tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào Vương Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

- Ở đây, bạch Thế Tôn, có nhiều ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ, trú ở Sàvatthi... họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này không phi pháp. Như thế này không phi pháp, như thế này là pháp".

- Này các tỷ-kheo, các du sĩ ngoi đo là nhng người mù, không có mt, không biết mc đích, không biết không phải mục đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đã thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này không phi pháp. Như thế này không phi pháp. Như thế này là pháp".

           Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:
           "Có một số Sa-môn,
           Cùng với Bà-la-môn,
           Họ chấp trước giành giật,
           Trong các luận thuyết này,
           Họ bị chìm đắm xuống,
           Khi đang còn giữa dòng,
           Họ không đạt đến được,
           Ðất cứng trên bờ kia".

(Ud 70)

            "Có người ở đời này,
            Chấp người làm là ta,
            Trói buộc với tư tưởng,
            Người làm là người khác,
            Họ không biết sự này,
            Họ thấy là mũi tên,
            Ai nhìn mũi tên này,
            Với thận trọng cần thiết,
            Người ấy không còn chấp,
            "Người làm chính là ta",
            Người ấy cũng không chấp,
            "Người làm là người khác".
            Loài người ở đời này,
            Bị kiêu nạn khiếp phục,
            Bị cột bởi kiêu mạn,
            Bị trói bởi kiêu mạn,
            Trong các loài chủ thuyết,
            Họ cạnh tranh, luận tranh,
            Họ không thể vượt qua,
            Luân chuyển trong sanh tử".

Phẩm Nhỏ     

(Ud 74)

            Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Sàriputta, với pháp thoại gồm nhiều pháp môn đang trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Tôn giả Lakumthakabbaddiya. Do Tôn giả Sàriputta, với pháp thoại gồm nhiều pháp môn trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ nên tâm của Tôn giả Lakumthakabhaddiya được giải thoát các lậu hoặc không có chấp thủ. Thế Tôn thấy Tôn giả Lakumthakabbaddiya, do Tôn giả Sàriputta với pháp thoại gồm nhiều pháp môn trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ nên tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ.

            Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:
            "Trên dưới khắp tất cả,
            Ðược giải thoát hoàn toàn,
            Không còn có tùy quán
            "Cái này chính là tôi".
            Giải thoát vậy vượt dòng,
            Trước chưa từng vượt qua,
            Không còn có rơi rớt
            Vào sanh hữu thọ sanh".

(Ud 75)

            "Chúng sanh bị tham đắm,
            Trong các loại ái dục,
            Họ không thấy lỗi lầm,
            Trong phiền não kiết sử,
            Chắc chắn các chúng sanh,
            Tham đắm trong ái dục,
            Họ không vượt qua được,
            Thác nước rộng và lớn.
            Bị mù bởi các dục,
            Bị bao phủ bởi lưới,
            Bị ái dục bao trùm,
            Lại còn bị trói buộc,
            Bởi trói buộc phóng dật,             
            Như cá mắc miệng lưới,
            Họ đi đến già chết,
            Như con bê bú sữa".

Phẩm Pàtaligàmiya

(Ud 80)

            Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

            "- Này các tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Hư không vô biên, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh; không có an trú, không có chuyện vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn tận khổ đau".

           (Ud 81)

           "Khó thấy là vô ngã,
           Không dễ thấy, sự thật,
           Với bậc có hiểu biết,
           Khéo xâm nhập được ái,
           Với vị ấy thấy rõ,
           Ðâu còn có vật gì".

            (Ud 82)

            "- Này các tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi".

           (Ud 83)

            "- Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì không có đến và đi; không có đến và đi thì không có diệt và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây là sự đoạn tận khổ đau".

           (Ud 85)

Một thời Thế Tôn đang đi bộ hành giữa dân chúng Magadha cùng với đại chúng tỷ-kheo, và đã đến làng Pàtali. Các nam cư sĩ ở làng Pàtali được nghe: "Thế Tôn đang đi b hành gia dân chúng Magadha vi đi chúng tỷ-kheo, và đã đến làng Pàtali". Rồi các nam cư sĩ ở làng Pàtali đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ làng Pàtali bạch Thế Tôn:

            - Mong Thế Tôn trú ở giảng đường chúng con.
            Thế Tôn im lặng nhận lời.
            Rồi Thế Tôn bảo các nam cư sĩ ở làng Pàtali:

            - Này các Gia Chủ, có năm điều nguy hiểm này cho người ác giới, người phạm giới. Thế nào là năm?

            Ở đây, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, do nhân duyên phóng dật, nên hao mất tài sản lớn. Ðây là nguy hiểm thứ nhất cho người ác giới, người phạm giới.
            Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, tiếng xấu đồn xa. Ðây là nguy hiểm thứ hai cho người ác giới, cho người phạm giới.
            Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới khi đến hội chúng nào, hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là hội chúng Sa-môn, vị ấy đến với sự sợ hãi, với sự ngỡ ngàng. Ðây là nguy hiểm thứ ba cho người ác giới, cho người phạm giới.
            Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, khi chết bị si ám. Ðây là nguy hiểm thứ tư cho người ác giới, cho người phạm giới.
            Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới, khi thân hoại mạng chung bị sanh vào ác xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðây là nguy hiểm thứ năm của người ác giới, của người phạm giới. Này các Gia chủ, có năm điu nguy him này cho người ác gii, cho người phm gii.

           - Này các Gia chủ, có năm điều lợi ích này cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Thế nào là năm?

           Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới, do nhân duyên không phóng dật được tài sản lớn. Ðây là lợi ích thứ nhất cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới.
           Lại nữa, này các Gia chủ, với người giữ giới, người đầy đủ giới, tiếng tốt lành được đồn xa. Ðây là lợi ích thứ hai cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới.
          Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới khi đi đến hội chúng nào, hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn, hoặc là gia-chủ, hoặc là Sa-môn, người ấy đi đến không có sợ hãi, không có ngỡ ngàng. Ðây là lợi ích thứ ba cho người giữ giới cho người có đầy đủ giới.
           Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới, khi chết không có si ám. Ðây là lợi ích thứ tư cho người giữ giới, cho người có đầy đủ giới.
            Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới khi thân hoại mạng chung được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ðây là lợi ích thứ năm cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Này các Gia chủ, có năm li ích này cho người gi gii, cho ngưòi đầy đ gii.

            Rồi Thế Tôn, sau khi thuyết giảng pháp thoại cho đến đêm khuya cho các cư sĩ ở làng Pàtali, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền giải tán chúng, nói rằng:

            - Ðêm đã khuya, này các Gia chủ, hãy làm những gì các vị nghĩ là hợp thời!
            Rồi các Gia chủ ở làng Pàtali hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi…  

            …Rồi Sunìdha và Vassakàra đại thần ở Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi đứng một bên. Ðứng một bên, các Sunìdha và Vassakàra, đại thần xứ Magadha, bạch Thế Tôn:

            - Mong Tôn giả Gotama hôm nay nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng tỷ-kheo!
            Thế Tôn im lặng nhận lời.
            Rồi Sunìdha và Vassakara đại thần Magadha, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đi đến chỗ của mình, sau khi đến sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và báo thời giờ cho Thế Tôn:
            - Thưa Tôn giả Gotama, nay đã đến thời. Cơm đã sẵn sàng.

            Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát cùng với chúng tỷ-kheo đi đến trú xứ của Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha tự tay thân mời chúng tỷ-kheo với đức Phật là vị Thượng thủ và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.

Rồi Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha, sau khi Thế Tôn ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế ngồi thấp khác. Thế Tôn với những bài kệ này, nói lên lời tuỳ hỷ công đức với Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha:

            "Tại chỗ nào bậc trí,
            Làm thành chỗ an trú,
            Hãy cúng các món ăn,
            Cho những người giữ giới,
            Cho người biết chế ngự,
            Sống đời sống Phạm hạnh,
            Ở đấy chư Thiên trú.
            Hãy cúng dường chư Thiên
            Ðược cúng dường, chư Thiên,
            Cúng dường lại vị ấy,
            Ðược cung kính, chư Thiên,
            Cung kính lại vị ấy,
            Họ từ mẫn vị ấy
            Như mẹ thương con mình,
            Người được chư Thiên thương,
            Luôn luôn thấy hiền thiện".

(Ud 90)

            "Cùng đi với kẻ ngu,
            Kẻ trí phải chen vai,
            Khi biết nó là ác,
            Lập tức từ bỏ nó,
            Như con bò bỏ nước,
            Ðược nuôi ăn với sữa".

(Ud 91)

            "Sầu, than và đau khổ,
            Sai biệt có ở đời,
            Duyên thân ái, chúng có,
            Không thân ái, chúng không,
            Do vậy, người an lạc,
            Người không có sầu muộn,
            Là những ai ở đời,
            Không có người thân ái,
            Do vậy ai tha thiết,
            Ðược không sầu, không tham,
            Chớ làm thân làm ái,
            Với một ai ở đời".

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Thế sự  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 11.2017 (Sưu tầm). (08.11.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 10.2017 (Sưu tầm). (22.10.2017)  
     •  TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI CƯ SĨ. Ngọc Hương. (14.10.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 09.2017 (Sưu tầm). (29.09.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 08.2017 (Sưu tầm). (08.09.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 07.2017 (Sưu tầm). (25.08.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 06.2017 (Sưu tầm). (13.07.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 05.2017 (Sưu tầm). (19.05.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 04.2017 (Sưu tầm). (18.04.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 03.2017 (Sưu tầm). (14.03.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 02.2017 (Sưu tầm). (24.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 01.2017 (Sưu tầm) (05.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 22.2016 (Sưu tầm). (25.12.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 21.2016 (Sưu tầm). (14.12.2016)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 8 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)