DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 5  
  Số lượt truy cập: 26448  
     
  Untitled Document
   
 
  Tìm hiểu kinh Nikaya
• KINH PHẬT TỰ THUYẾT (Ud 5 - Ud 6) - Kinh Tiểu Bộ.  
Cập nhật ngày : 02.03.2016 (Đã đọc : 1850 lần )
KINH PHẬT TỰ THUYẾT
(Cảm hứng ngữ - Udàna)

            Giới thiệu

Kinh Udàna, được dịch là Phật Tự Thuyết Kinh, nghĩa là những kinh này đức Phật tự nói, do cảm xúc mạnh đột khởi, không ai thỉnh Phật thuyết. Cũng có khi dịch là "Vô vấn tự thuyết", nghĩa là không có người hỏi đức Phật tự nói. Có khi được dịch là "Những lời cảm hứng", nghĩa là lời nói đột khởi, do cảm xúc mạnh thúc đẩy, khi đức Phật tự mình chứng kiến những sự việc xảy ra xung quanh. Theo tập Upanishads, chữ Udàna có nghĩa là các hơi thở sinh mệnh (pràna, apàna, sumàna, vyàna, udàna), ở trung tâm cổ họng được phát ra.

            Tập này gồm tám chương. Mỗi chương có 10 kinh. Như vậy có tám mươi kinh tất cả.

            Song song với các sự tích về đời sống đức Phật, tập Udàna nói đến khá nhiều về các đệ tử của đức Phật, như Sàriputta, Moggallàna, Kaccàna, Subbùti, Mahakassapa, Nanda...

            Tiếp đến là các đệ tử tại gia, như nữ cư sĩ Visàkhà hai lần đến yết kiến đức Phật, một lần vì có sự việc cần phải giải quyết với Vua Pasenadi (II, 9),

            Bao giờ cũng vậy, giữa đức Phật và các ngoại đạo cũng có những va chạm, những xung khắc, và các tích này được nghe nhận khá nhiều trong tập Udàna. Trước hết là sự kiện khi Như Lai chưa xuất hiện thời các ngoại đạo được quần chúng cung kính cúng dường, nhưng khi Như Lai xuất hiện, thời sự cung kính cúng dường bị chấm dứt (Vi, 9; II, 9). Cũng vì vậy, ngoại đạo thù hằn đức Phật và chúng Tăng, giết kỹ nữ tên Sundarì đem chôn ở Jetavana để vu oan cho chúng Tăng (IV, 8). Và dân chúng ở Thùma do ngoại đạo xúi dục đổ cỏ và rác xuống giếng để ngăn đức Phật không được uống nước (VII, 9). 

            Thường thường đức Phật dùng một vài hình ảnh châm biếm để nói đến các ngoại đạo. Chúng ta nhớ câu chuyện các người mù rờ voi, diễn tả các ngoại đạo mỗi người chấp chặt chủ thuyết của mình (VI, 4).      

Trong 80 kinh của tập Udàna, 80 trường hợp được ghi nhận là đức Phật thốt lên những lời cảm hứng, sau khi cảm thấy xúc động trước một số sự kiện, và chính những lời cảm hứng mới thật là quan trọng trong tập Udàna này. Vì đây là dịp đức Phật nói lên quan điểm của mình đối với những sự việc đã xảy ra ở xung quanh; và chính những quan điểm ấy đã trở thành những giáo lý chính đức Phật đã giảng dạy và trình bày. Chúng ta đã tìm được những pháp và tùy pháp đức Phật đã thuyết giảng ngay qua các lời cảm hứng ấy.

            Trước hết là lý 12 nhân duyên hay lý duyên khởi được trình bày ba lần, trong ba kinh đầu I. 1, 2, 3, thuận chiều, nghịch chiều, thuận chiều và nghịch chiều, từ vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc cho đến duyên sanh, lão tử, sầu bi khổ ưu não. Quá trình sanh tử của con người, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai được khéo cô động trong thuyết duyên khởi. Bao giờ cũng vậy, đức Phật nhắm trong dây chuyền sanh tử, hai pháp "dục" và "ái" rất là quan trọng. Và do vậy nhiều lời cảm hứng đề cập đến dục và ái. Trong kinh VII, 4, dân chúng Sàvatthi quá đắm say về dục nên đức Phật đã than:

            "Bị mù bởi các dục,
            Bị lưới dục bao phủ,
            Bị ái dục bao trùm,
            Lại còn bị trói buộc,
            Bởi trói buộc phóng dật,
            Như cá mắc miệng lưới,
            Chúng đi đến già chết,
            Như con bê bú sữa,
            Ði đến với mẹ nó."

            Với ái, có thân yêu là có đau khổ. Khi Visakhà đến than với đức Phật có đứa cháu trai mới chết, đức Phật đã nói: "Những ai có 100 quả thân yêu là có 100 đau khổ; 90 người thân yêu là 90 người đau khổ... cho đến 1 người thân yêu là 1 người đau khổ." (VIII, 8)

            "Sầu than và đau khổ,
            Sai biệt có ở đời,
            Duyên thân ái chúng có,
            Không thân ái chúng không.
            Do vậy, người an lạc,
            Người không có sầu muộn
            Là những ai ở đời,
            Không có người thân ái,
            Do vậy ai tha thiết,
            Ðược không sầu, không tham,
            Chớ làm thân, làm ái,
            Với một ai ở đời".

            Dục và ái đã có mặt, thời có sanh y, có sự tiếp nối một đời sống, nên có sanh y là có đau khổ:

            "Giữa làng, tại núi rừng,
            Cảm thọ khổ và lạc,
            Chớ quy về tự mình,
            Chớ quy về người khác.
            Các xúc được cảm thọ,
            Là do duyên sanh y.
            Với vị không sanh y,
            Do đâu, xúc cảm thọ?!" (II, 4)

            Khi đức Phật từ bỏ thọ hành (VI, 1), Ngài muốn cắt đứt mọi hành động sanh hữu:

            "Bậc ẩn sĩ từ bỏ,
            Các hành động sanh hữu,
             Sanh hữu có cân lượng,
             Sanh hữu không có cân lượng.
             Ưa thích hướng nội tâm,
             Thật định tỉnh an tịnh,
             Phá đổ ngã sanh hữu,
             Như cởi thoát áo giáp."

            Trong những kinh, đức Phật tán thán các đệ tử tu thiền định vì đó là con đường đưa đến giải thoát. Trong kinh III, 5, ngài Mục Kiền Liên ngồi thiền định tu thân hành niệm được đức Phật nói lên cảm hứng :

            "Thân hành niệm an lập,
            Sáu xúc xứ chế ngự,
            Tỷ-kheo thường thiền định,
            Tự chứng tri Niết-bàn."

            Trong kinh III, 4, Ngài Xá Lợi Phật ngồi thiền định, để niệm trước mặt, không xa Thế Tôn bao nhiêu và Thế Tôn nói lên lời cảm hứng :

             "Như ngọn núi bằng đá,
             Không động khéo an trú,
             Cũng vậy vị tỷ-kheo,
             Ðoạn diệt được ngu si,
             Như ngọn núi bằng đá,
             Không có bị dao động."

            Ngài Tu Bồ Ðề (Sudhùti), tu định không tầm (avitakkam samàdhim) và được Thế Tôn tán thán và nói lời cảm hứng:

             "Với ai tâm quét sạch,
             Nội tâm khéo cắt đứt,
             Không còn chút dư tàn,
             Vượt qua ái nhiễm ấy.
             Ðạt được tưởng vô sắc,
             Vượt khỏi bốn ách nạn,
             Không đi đến thọ sanh". (Kinh VI, 7)

            Nhưng đức Phật nhận thấy đối với chúng sanh, khó thấy là vô ngã, khó thấy là sự thật. Nên đức Phật thường dạy cho các đệ tử một cái nhìn "vô ngã":

            "Trên dưới, khắp tất cả
            Ðược giải thoát hoàn toàn,
            Không còn có tùy quán
            "Cái này chính là tôi".
            Giải thoát vậy vượt giòng,
            Trước chưa từng vượt qua,
            Không còn có rơi rớt.
            Vào sanh tử thọ sanh".

            Mục đích cuối cùng của sự tu hành là giải thoát Niết-bàn và trong tập Udàna có nhiều kinh và lời cảm hứng đề cập đến trạng thái Niết-bàn, một trạng thái khó lấy danh từ để diễn tả.

            Bàhiya Darucìriya tu tập, tưởng mình đã chứng quả A-la-hán nhờ đức Phật dạy cho:

            "Vậy này Bàhiya, ngươi cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri... Như vậy, này Bàhiya, nhà ngươi cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, như với ngươi, trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy, trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe, trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng, trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiya, ngươi không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya ngươi không là chỗ ấy. Do vậy, này Bàhiya, ngươi không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau" (Kinh I, 10).

            Ðoạn sau đây cũng là đoạn diễn tả Niết-bàn trong lời cảm hứng bằng văn xuôi (VIII, 1).

            "Này các tỷ-kheo, có xứ này (Ayatana), tại đấy không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có hư không vô biên xứ; không có thức vô biên xứ; không có vô sở hữu xứ; không có phi tưởng phi phi tưởng xứ, không có đời này; không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên. Ðây là sự đoạn tận khổ đau."

            Ðoạn tiếp cũng diễn tả trạng thái Niết-bàn: 

            "Này các tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sự sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi". (VIII, 3)

            Ðây cũng là lời cảm hứng của Phật về trạng thái Niết-bàn giải thoát: 

            "Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động, cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thời có khinh an. Có khinh an thời không có thiên về. Không có thiên về, thời không có đến và đi. Không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Không có diệt và sanh, thời không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây là sự đoạn diệt khổ đau". (VIII, 4)

            Như vậy trong tập Udàna này, ngang qua các câu cảm hứng do đức Phật thuyết lên một số giáo lý căn bản được đề cập một số pháp môn tu hành được đề cao và mục đích tối hậu trong sứ mệnh hoằng pháp của đức Phật cũng được diễn tả đến.

                                                                                              HT. Thích Minh Châu
                                                                      Thiền viện Vạn Hạnh Sài Gòn, 1982 (PL. 2526)

Phẩm Bồ Đề

(Ud 5)

       Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đã đi đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nghe được tin Tôn giả Sangamàji đã đến Sàvattthi. Nàng liền dắt người con đi đến Jetavana. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đang ngồi dưới gốc cây đề nghỉ ban ngày. Rồi người vợ trước đây của Tôn giả Sangamàji, đi đến Tông Giả Sangamàji, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sangamàji:

            - Này Sa môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

            Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sangamàji, giữ im lặng. Lần thứ hai, người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:

            - Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

            Lần thứ hai, Tôn giả Sangamàji giữ im lặng. Lần thứ ba người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:

            - Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

            Lần thứ ba, Tôn giả Sangamàji vẫn giữ im lặng. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji đặt đứa nhỏ trước mặt Tôn giả Sangamàji rồi bỏ đi, nói rằng:

            - Này Sa-môn, đây là đứa con trai của Sa-môn. Hãy nuôi dưỡng nó!

            Tôn giả Sangamàji không có ngó đến đứa nhỏ ấy, cũng không nói gì. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji sau khi đi không xa, ngó lui lại thấy Tôn giả Sangamàji không ngó đứa con nhỏ ấy, cũng không nói; thấy vậy liền suy nghĩ: "Sa môn này không muốn ngó đến người con ". Nàng liền trở lui lại, bồng lấy đứa con rồi ra đi. Thế Tôn với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy cử chỉ thô bạo như vậy của người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji.

            Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

            Không hoan hỷ, nàng đến,
            Không sầu mun, nàng đi,
            Giải thoát khi ái phược,
            Là Sangamàji
            Ta gọi người như vậy,
            Là vị Bà-la-môn.

            (Ud 6)

            Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Bàhiya Daruciriya trú ở Suppàraka, trên bờ biển, được cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường và nhận được y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Rồi Bàhiya Dàcuciriya khởi lên tư tưởng như sau: "Với ai là bc A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán, ta là mt trong nhng v y". Rồi một Thiên nhân, trước là bà con huyết thống với Bàhiya Dàruciriya, vì lòng từ mẫn, vì muốn lợi ích, với tâm của mình biết tâm tư của Bàhiya Dàruciriya, đi đến Bàhiya Dàruciriya và nói như sau:

            - Này Bàhiya. Ông không phải là A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán. Ông không có đạo lộ ấy, với đạo lộ này Ông có thể trở thành A-la-hán hay đang đi trên con đường đưa đến A-la-hán.

            - Nhưng ai là những vị, trong thế giới này, với thế giới chư Thiên là những vị A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán?

            - Này Bàhiya, có thành phố tên là Sàvatthi trên những quốc lộ phương Bắc. Tại đấy có Thế Tôn hiện đang trú, bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác. Vị ấy là bậc A-la-hán và thuyết pháp đưa đến quả A-la-hán.

            Rồi Bàhiya Dàruciriya, được Thiên nhân ấy thúc dục, đi ra khỏi Sappàraka, trong suốt đường trường, chỉ nghỉ một đêm, đi đến chỗ Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang đi kinh hành giữa trời. Bàhiya Dàruciritya đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến nói như sau:

            - Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

            - Này Bàhiya, Thế Tôn đã đi vào giữa các nhà để khất thực.

            Rồi Bàhiya Dàraciriva mau chóng ra khỏi Jetavana, đi vào Sàvatthi, và thấy Thế Tôn đang đi khất thực, khả ái, khởi lên tịnh tin, các căn an tịnh, tâm ý an tịnh, đạt được an chỉ, chế ngự tối thượng, giống như một con voi được điều phục, phòng hộ với các căn an tịnh. Thấy vậy, Bàhiya Dàruciriya liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu xuống chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

            - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.

            Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bàhiya Dàruciriya:
            - Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.

            Lần thứ hai Bàhiya Dàruciriya Bạch Thế Tôn:
            - Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn, hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.

            Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Màhiya Dàruciriya:
            - Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.

            Lần thứ ba, Bàhiya Dàruciriya bạch Thế Tôn:
            - Thật khó biết... hạnh phúc lâu dài.

            - Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, s ch là cái thy. Trong cái nghe, s ch là cái nghe. Trong cái th tưởng, s ch là cái th tưởng. Trong cái thc tri, s ch là các thc tri". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.

            Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bàhiya Dàruciriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Thế Tôn sau khi thuyết cho Bàhiya Dàruciriya lời giáo giới tóm tắt này, liền ra đi. Thế Tôn ra đi không bao lâu, một con bò con húc chết Bàhiya Dàruciriya. Thế Tôn sau khi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi ra khỏi thành với nhiều tỷ-kheo, thấy Bàhiya Dàruciriya bị chết, thấy vậy liền nói với các tỳ-kheo:

            - Này các tỳ-kheo, hãy lấy thân xác Bàhiya Dàruciriya, đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Này các tỷ-kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các thầy đã qua đời!

            - Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

            Các vị tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, sau khi đặt xác thân của Bàhiya Dàruciriya lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, xây dựng cái tháp cho vị ấy, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, thân xác của Bàhiya Dàruciriya đã được hỏa thiêu, tháp đã được xây dựng xong cho vị ấy. Sanh thứ cho vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy là gì?  

            - Này các tỷ-kheo, Hiền trí là Bàhiya Dàruciriya đã hành trì tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Này các tỷ-kheo, Bàhiya Dàruciriya đã nhập Niết-bàn.

            Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

             Chỗ nào nước và đt,
             Lửa, gió không chp trước,
             Tại đây sao không chói,
             Mặt tri không chiếu sáng,
             Tại đây trăng không chiếu,
             Tại đây u ám không,
             Khi ẩn sĩ Phm chí,
             Tự mình vi trí tu,
             Thể nhp vào Chánh pháp,
             Vị y được gii thoát
             Khỏi sc và vô sc,
             Khỏi an lc, đau kh.

            Lời cảm hứng này được Thế Tôn thuyết giảng và tôi được nghe như vậy.

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Tìm hiểu kinh Nikaya  
     •  KINH PHẬT THUYẾT NHƯ VẬY (Tập 4 pháp). Kinh Tiểu Bộ. (05.06.2016)  
     •  KINH PHẬT THUYẾT NHƯ VẬY (Tập 3 pháp). Kinh Tiểu Bộ. (19.05.2016)  
     •  KINH PHẬT THUYẾT NHƯ VẬY (Tập 3 pháp). Kinh Tiểu Bộ. (25.04.2016)  
     •  KINH PHẬT THUYẾT NHƯ VẬY (Tập 2 pháp). Kinh Tiểu Bộ. (15.04.2016)  
     •  KINH PHẬT THUYẾT NHƯ VẬY (Tập 1 pháp-tt). Kinh Tiểu Bộ. (02.04.2016)  
     •  KINH PHẬT THUYẾT NHƯ VẬY (Tập 1 pháp). Kinh Tiểu Bộ. (22.03.2016)  
     •  KINH PHẬT TỰ THUYẾT (Ud 49 - Ud 91) - Kinh Tiểu Bộ. (14.03.2016)  
     •  KINH PHẬT TỰ THUYẾT (Ud 10 - Ud 45) - Kinh Tiểu Bộ. (07.03.2016)  
     •  KINH TIỂU TỤNG. Kinh Tiểu Bộ - Khuddaka Nikàya. (21.02.2016)  
     •  BỐN NIỆM XỨ CẦN PHẢI TU TẬP. TL Thích Thông Lạc. (14.07.2015)  
     •  ĐỨC PHẬT DẠY LÀM CHỦ BỆNH. Trầm Lặng (17.04.2015)  
     •  CÁI GÌ LÀ CON TÔI...? Trầm Lặng. (17.03.2015)  
     •  LƯỢC TRÍCH KINH TƯƠNG ƯNG (22.10.2014)  
     •  LƯỢC TRÍCH KINH TĂNG CHI. (15.10.2014)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)