DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 14/10/2017
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
  Cập nhật ngày: 18/09/2013
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 7  
  Số lượt truy cập: 26400  
     
  Untitled Document
   
 
  Đại tạng kinh Việt nam
• KINH TRUNG BỘ - Majjhima Nikàya - HT Thích Minh Châu dịch Việt  
Cập nhật ngày : 25.02.2015 (Đã đọc : 3636 lần )

              Bài kinh số 34: TIỂU KINH NGƯỜI CHĂN BÒ

“Này các tỷ-kheo, vì người chăn bò ở Magadha là người có trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, sau khi quán sát bờ bên này sông Hằng, sau khi quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ có thể lội qua được. 

            Cũng vậy, này các tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết ma giới, khéo biết phi ma giới, khéo biết tử thần giới, khéo biết phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài”. 

Trước khi đọc nguyên văn bản kinh, mời quý phật tử và độc giả đọc bài giảng của Trưởng Lão Thích Thông Lạc đã giảng trạch rõ ràng nội dung kinh với tiêu đề:

CÁC QUẢ TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO

Một người tu theo đạo Phật mà không biết các quả tu trong Phật giáo thì cũng giống như người đi đường mà không biết những chặng đường đến đâu.

              Ví dụ: Như đoạn đường từ Trảng Bàng về TP Hồ Chí Minh phải đi qua bao nhiêu chặng đường:
              1- Chặng đường thứ nhất từ Trảng Bàng đến Suối Sâu
              2- Chặng đường thứ hai từ Suối Sâu đến Suối Cụt
              3- Chặng đường thứ ba từ Suối Cụt đến Củ Chi
              4- Chặng đường thứ tư từ Củ Chi đến Tân Phú Trung.
              5- Chặng đường thứ năm từ Tân Phú Trung đến Hốc Môn.
              6- Chặng đường thứ sáu từ Hốc Môn đến Trung Chánh
              7- Chặng đường thư bảy Từ Trung Chánh đến Tham Lương
              8- Chặng đường thứ tám từ Tham Lương đến Bà Quẹo
              9- Chặng đường thứ chín từ Bà Quẹo đến Bảy Hiền
             10- Chặng đường thứ mười từ Bảy Hiền đến Bến Thành.

Con đường tu tập theo Phật giáo cũng vậy, mỗi chặng đường tu tập đều có kết quả. Cho nên người tu sĩ tu tập phải nhận biết điều này để khi tu tập tới đâu mình đều biết, nếu không biết thì giống như người mù rờ voi. Vậy chúng ta hãy lắng nghe lời đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, tại Magadha có người chăn bò vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, không quan sát bờ bên này sông Hằng, không quan sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ không có thể lội qua được. Này các tỳ-kheo, những con bò xô nhau tụ lại giữa dòng sông Hằng và gặp tai nạn tại nơi đây.”

Một ví dụ đức Phật đã giúp chúng ta thấy rất rõ ràng vì vô trí của người chăn bò mà bầy bò gặp tai nạn giữa dòng sông Hằng. Cho nên người tu hành để tìm cầu sự làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì phải biết tất cả các quả chứng trên đường tu tập. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy tiếp:

“Cũng vậy, này các tỳ-kheo, có những Sa-Môn hay Bà-La-Môn không khéo biết đời này, không khéo biết đời sau, không khéo biết ma giới, không khéo biết phi ma giới, không khéo biết tử thần giới, không khéo biết phi tử thần giới, những ai nghĩ rằng cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài.”

Trên đường tu tập tìm cầu sự làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì phải rõ đời sống hiện tại, đời sống về tương lai có nhiều điều làm đau khổ và có nhiều điều không làm đau khổ, có nhiều điều xảy ra chết chóc, nhưng có nhiều điều không xảy ra chết chóc.  

Do những điều đó khiến cho chúng ta quá sợ hãi nên dễ tin theo những người ngoại đạo Bà La Môn họ nói ma, nói quỷ, nói linh hồn người chết hiện ra chỗ này chỗ khác. Cho nên chúng ta đừng nghe theo và cũng đừng tin ai cả. Vì tin và nghe theo thì cũng giống như người chăn bò vô trí nên bầy bò gặp tai nạn giữa dòng sông Hằng. Còn ngược lại người chăn bò có trí cho những con bò già đi trước thăm dò đường và những con bò con đi sau cùng nhờ đó mà bầy bò được an toàn qua sông. Muốn cho con đường tu tập được đến nơi đến chốn thì chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Ngày xưa, này các tỳ-kheo, tại Magadha có người chăn bò có trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, sau khi quán sát bờ bên này sông Hằng, sau khi quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ có thể lội qua được. Người đó đuổi bò cho đi đầu những con bò đực già, những con đầu đàn. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Rồi người đó đưa qua những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có được huấn luyện. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Rồi người đó đuổi qua những con bò đực con (lớn), những con bò cái con (lớn). Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Rồi người đó đuổi qua những con bò con (nhỏ), những con bò con còn bú. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Này các tỳ-kheo, thời xưa ấy có con bò còn nhỏ mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, cũng qua bờ bên kia một cách an toàn.”

So sánh bầy bò do người chăn bò có trí mà bầy bò qua sông Hằng được an toàn, cũng như các con được người đã tu chứng đạo hướng dẫn, nên chỗ nào tu bị ức chế tâm, chỗ nào bị tưởng họ đều biết rất rõ, cho nên họ sẽ hướng dẫn những người tu hành đến nơi đến chốn mà không còn sợ sai lạc. Những điều tu hành ở đây không phải dẹp vọng tưởng mà hãy xem tâm mình còn bị ác pháp tác động hay không?

Nếu tâm không bị ác pháp tác động được thì đó là chứng đạo chứ không phải chứng đạo là tâm không còn vọng niệm. Đức Phật đã dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp.” Như vậy rõ ràng là tâm còn vọng niệm nhưng vọng niệm thiện chớ không còn vọng niệm ác.

Cho nên kẻ nào tu tập ức chế ý thức hết vọng niệm là sai. Phật không có dạy tu tập như vậy. Muốn biết rõ những điều này chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, ví như những con bò đực già, đầu đàn, chúng đã lội cắt ngang dòng sông Hằng và qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỳ-kheo, các tỳ-kheo là những bậc A-la-hán đã đoạn trừ các lậu hoặc, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, các hữu kiết sử đã hoàn toàn bị đoạn diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Những vị này, sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương, đã qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Những người tu hành đoạn trừ các lậu hoặc, các kiết sử đã đoạn diệt cho nên không có ác pháp nào tác động đến tâm họ được, họ là người giải thoát hoàn toàn cũng giống như các con bò đực lớn mạnh và được điều khiển chúng đã lội qua dòng sông đến bờ bên kia được bình an.

Trên đây là những vị tu hành đã đoạn trừ các lậu hoặc và các hữu kiết sử, đã chứng quả A-la-hán, họ đã đạt được mục đích tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Đạo Phật tu tập đến đây đã hoàn thành không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả. Đây là chặng đường thứ nhất được vào Niết Bàn nếu ai quyết tâm tu tập diệt trừ các lậu hoặc và các kiết sử.

Chặng đường thứ hai cũng được vào Niết Bàn. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, ví như những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có huấn luyện, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở tại đấy nhập Niết-Bàn, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Tu theo Phật giáo nhập vào Niết Bàn không phải khó. Cho nên những bậc đã chứng quả A-la-hán vào Niết bàn được thì như lời Phật dạy ở trên chỉ cần diệt trừ được năm hạ phần kiết sử thì khi chết vẫn nhập vào Niết Bàn rất dễ dàng.

               Năm hạ phần kiết sử gồm có:
               1- Thân kiến kiết sử;
               2- Nghi kiết sử;
               3- Giới cấm thủ kiết sử;
               4- Tham kiết sử;
               5- Sân kiết sử

Chỉ cần diệt trừ năm hạ phần kiết sử này thì chết cũng vào Niết Bàn một cách dễ dàng không thua gì một bậc đã tu chứng quả A-la-hán. Trên đây là quả thứ hai của những người được vào Niết Bàn. Dưới đây là quả thứ ba của những người tu theo Phật giáo chỉ cần diệt trừ ba kiết sử và làm muội lược tâm tham, sân, si thì cũng nhập vào Niết Bàn không phải khó khăn

              Ba kiết sử gồm có như sau:
              1- Thân kiến kiết sử
              2- Nghi kiết sử
              3- Giới cấm thủ kiết sử

Đây là chặng đường vào Niết Bàn thứ ba. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy chặng đường vào Niết Bàn thứ ba:

“Ví như, này các tỳ-kheo, những con bò đực con (lớn), những con bò cái con (lớn), những con bò này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo đã diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa, sẽ diệt tận khổ đau. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Đúng vậy, chỉ cần diệt trừ ba kiết sử và làm giảm thiểu tâm tham, sân, si thì cũng vào Niết Bàn dễ dàng. Chặng đường vào Niết Bàn thứ tư chỉ cần diệt trừ ba kiết sử:

               1- Thân kiến kiết sử
               2- Nghi kiết sử
               3- Giới cấm thủ kiết sử.

Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Ví như, này các tỳ-kheo, những con bò con (nhỏ), những con bò con còn bú, những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác. Những vị này lội cắt ngang dòng sông Ma vương và sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Chặng đường thứ tư (?) chỉ cần diệt trừ ba kiết sử thì chúng ta cũng nhập vào Niết bàn một cách dễ dàng sau khi bỏ xác thân này. Dưới đây là chặng đường thứ năm, nếu chúng ta hành đúng pháp là chúng ta cũng vào Niết bàn không có khó khăn. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Ví như, này các tỳ-kheo, con bò con còn nhỏ, mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo tùy pháp hành, tùy tín hành, những vị này sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.”

Chặng đường thứ năm này tùy theo pháp thiện hay ác mà giữ gìn tâm thanh thản an lạc thì cũng vào Niết Bàn một cách dễ dàng không có khó khăn. Chặng đường thứ năm Đức Phật dạy chúng ta không diệt trừ tâm tham, sân, si, mạn, nghi và kiết sử nhưng chỉ có giữ gìn tâm thanh thản, an lạc thì cũng vào Niết Bàn. Như vậy Phật giáo tu tập vào Niết Bàn đâu có khó khăn mệt nhọc chỉ cần biết sống thanh thản, an lạc là vào Niết bàn rồi. Đến đây quý vị có thấy điều dễ dàng này không?

Chặng đường thứ sáu đức Phật dạy chỉ có lòng tin nơi đức Phật mà khéo đối xử với mọi người mọi hoàn cảnh, không làm mình khổ, người khác khổ và khổ tất cả chúng sinh thì mình cũng vào Niết Bàn không có khó khăn. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy:

“Này các tỳ-kheo, nay Ta khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết đối với Ma giới, khéo biết đối với phi Ma giới, khéo biết đối với tử thần giới, khéo biết đối với phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin nơi Ta, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.”

Chỉ cần tin nơi lời Phật dạy, biết đối xử với mọi người không làm khổ mình khổ người và tất cả chúng sinh thì khi bỏ thân này cũng vào Niết Bàn một cách dễ dàng không có khó khăn.

Bởi đạo Phật có sáu chặng đường vào Niết Bàn chúng ta muốn đi chặng nào cũng được chỉ tùy vào sức lực, vào khả năng của mình mà chọn lấy nẻo vào Niết Bàn. Xét qua sáu chặng đường tu tập này chúng ta mới thấy đạo Phật tu hành tùy theo căn cơ và trình độ của mỗi người, nhưng người nào cũng được vào Niết Bàn.

Nguyên văn bản kinh:

Bài kinh số 34. TIỂU KINH NGƯỜI CHĂN BÒ
(Cùlagopàlaka sutta)

            Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn ở giữa các bộ lạc Vajji (Bạt-kỳ) tại Ukkacela, trên bờ sông Hằng. Tại đây Thế Tôn gọi các tỷ-kheo.

            - Này các tỷ-kheo.
            - Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
            Những tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

            - Ngày xưa, này các tỷ-kheo, tại Magadha có người chăn bò vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, không quan sát bờ bên này sông Hằng, không quan sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ không có thể lội qua được. Này các tỷ-kheo, những con bò xô nhau tụ lại giữa dòng sông Hằng và gặp tai nạn tại nơi đây. Vì cớ sao? Này các tỷ-kheo, vì người chăn bò ở Magadha là vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, không quán sát bờ bên này sông Hằng, không quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ không thể lội qua được. 

            Cũng vậy, này các tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn không khéo biết đời này, không khéo biết đời sau, không khéo biết ma giới, không khéo biết phi ma giới, không khéo biết từ thần giới, không khéo biết phi tử thần giới, những ai nghĩ rằng cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài. 

            Ngày xưa, này các tỷ-kheo, tại Magadha có người chăn bò có trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, sau khi quán sát bờ bên này sông Hằng, sau khi quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ có thể lội qua được. Người đó đuổi đi đầu những con bò đực già, những con đầu đàn. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Rồi người đó đưa qua những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có được huấn luyện. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Rồi người đó đuổi qua những con bò đực con, lớn, những con bò cái con, lớn. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Rồi người đó đuổi qua những con bò con nhỏ, những con bò con còn bú. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Này các tỷ-kheo thời xưa ấy có con bò còn nhỏ mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, cũng qua bờ bên kia một cách an toàn. Vì sao? Này các tỷ-kheo, vì người chăn bò ở Magadha là người có trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, sau khi quán sát bờ bên này sông Hằng, sau khi quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ có thể lội qua được. 

            Cũng vậy, này các tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết ma giới, khéo biết phi ma giới, khéo biết tử thần giới, khéo biết phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài. 

            Này các tỷ-kheo, ví như những con bò đực già, đầu đàn, chúng đã lội cắt ngang dòng sông Hằng và qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo là những bậc A-la-hán, đã đoạn trừ các lậu hoặc, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, các hữu kiết sử đã hoàn toàn bị đoạn diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Những vị này, sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. 

            Này các tỷ-kheo, ví như những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có huấn luyện, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỷ-kheo, những tỷ-kheo sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn. 

            Ví như, này các tỷ-kheo, những con bò đực con, lớn, những con bò cái con, lớn, những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỷ-kheo, những tỷ-kheo đã diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa, sẽ diệt tận khổ đau. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn. 

            Ví như, này các tỷ-kheo, những con bò con, nhỏ, những con bò con còn bú, những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỷ-kheo, những tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác. Những vị này lội cắt ngang dòng sông Ma vương và sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn. 

            Ví như, này các tỷ-kheo, con bò con còn nhỏ, mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các tỷ-kheo, những tỷ-kheo tùy pháp hành, tùy tín hành, những vị này sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn. 

            Này các tỷ-kheo, nay Ta khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết đối với ma giới, khéo biết đối với phi ma giới, khéo biết đối với tử thần giới, khéo biết đối với phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin nơi Ta, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài. 

            Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi Thiện Thệ nói vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm bài kệ như sau:
             Ðời này và đời sau,
             Bậc Trí khéo trình bày,
             Cảnh giới Ma đạt được, 
             Cảnh Tử Thần không đạt.
                       Bậc Chánh Giác, Trí Giả, 
                       Biết rõ mọi thế giới,
                       Cửa bất tử rộng mở,
                       Ðạt an ổn Niết-bàn. 
             Dòng Ma bị chặt ngang, 
             Nát tan và hư hoại,
             Hãy sống sung mãn hỷ, 
             Ðạt an ổn Niết-bàn,
<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Đại tạng kinh Việt nam  
     •  KINH ANGULIMÀLA. HT Thích Minh Châu dịch (24.05.2017)  
     •  KINH VƯƠNG TỬ BỒ ĐỀ. HT Thích Minh Châu dịch Việt (05.05.2017)  
     •  KINH MADHURÀ. HT Thích Minh Châu dịch. (11.03.2017)  
     •  KINH MAKHADEVA. HT Thích Minh Châu dịch (05.03.2017)  
     •  KINH RATTHAPALA. HT Thích Minh Châu dịch (15.01.2017)  
     •  KINH GHATÌKÀRA. HT Thích Minh Châu dịch. (21.12.2016)  
     •  KINH VEKHANASSA. HT Thích Minh Châu dịch. (12.12.2016)  
     •  TIỂU KINH SAKULUDAYI. HT Thích Minh Châu dịch. (16.11.2016)  
     •  KINH SAMANAMANDIKÀ. HT Thích Minh Châu dịch. (01.11.2016)  
     •  ĐẠI KINH SAKULDÀYI. HT Thích Minh Châu dịch. (16.10.2016)  
     •  KINH SANDAKA. HT Thích Minh Châu dịch. (30.09.2016)  
     •  KINH MÀGANDIYA. HT Thích Minh Châu dịch. (22.09.2016)  
     •  KINH TRƯỜNG TRẢO. HT Thích Minh Châu dịch. (05.09.2016)  
     •  ĐẠI KINH VACCHAGHOTTA. HT Thích Minh Châu dịch. (21.08.2016)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 7 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)